Một số
CÂY THUỐC
NAM
Thông dụng
(TẬP 5)
PHÁT HÀNH LẦN THỨ 1 (08-2017)
Mùa An cư PL.2561
NGUYÊN CHƯƠNG
Sưu tầm
LƯU HÀNH NỘI BỘ
(sách tặng
không bán)
TỊNH THẤT NGUYÊN CHƯƠNG
Tổ 2, thôn Khánh An, xã Tam Dân, huyện Phú Ninh,
Tỉnh Quảng Nam
Hoa Địa hoàng
ĐÔI LỜI TÁC
BẠCH
Mấy
năm qua, chúng tôi đã lần lượt phát hành 20 bộ sách nhỏ gởi tặng thập phương, gồm
10 quyển “Những bài thuốc Nam dân gian hiệu nghiệm” từ số 1 đến số 10, bốn
quyển sách đặc biệt : Địa long thần dược cứu mạng, Giấm táo - Mật
ong thần dược chữa bệnh, sống lâu; những
phương thuốc thần chữa bệnh ung thư. Hai bộ sách “Cây Cần sen-thần dược chữa bệnh”,
“Nhà
nhà trồng cây Cần sen để làm thuốc chữa bệnh”, đặc biệt 4 bộ sách “Một
số cây thuốc Nam thông dụng” 1, 2, 3, 4.
Được
sự khuyến khích động viên của quý chư liệt vị, chúng tôi tiếp tục không ngừng
sưu tầm nghiên cứu các cây thuốc mới với những vị thuốc dễ tìm để giúp người bệnh
khắp nơi có điều kiện chữa bệnh dễ dàng, ít tốn kém nhưng hiệu quả cao. Sưu tầm
được bài nào chúng tôi cho phát hành tờ rơi chữa thử nghiệm, điều chỉnh liều lượng
thuốc đến khi có kết quả tốt mới in ra sách.
Nay có nhân duyên, chúng tôi xin giới thiệu tiếp tập sách nhỏ “MỘT
SỐ CÂY THUỐC NAM THÔNG DỤNG” tập 5. Trong
mỗi gia đình nên trồng những cây thuốc nầy, xem như có một vị thầy thuốc Nam
thường trực trong nhà, sẽ tự chữa được những bệnh thường gặp nhất, không cần phải
đi xa. Vì hiện nay ở nước ta thuốc Nam được xem là vị thuốc hiệu quả nhất được
đa số người dân tin dùng, nhất là những người nghèo không đủ điều kiện đến bệnh
viện, hay ở quá xa nhà thương, y bác sĩ. Theo kinh nghiệm, trồng thuốc Nam trên
đất tự nhiên dược tính cao hơn trồng trong chậu kiểng.
Theo
tìm hiểu của chúng tôi, thuốc Nam được bào chế dưới dạng thuốc Tây gọi
là Thực phẩm chức năng, sau vài ba năm đưa vào sử dụng có kết quả thì được nâng
lên thuốc.
Mong
quý vị đón nhận tập 5 nầy với sự tin tưởng cao để tiện lợi
tham khảo trong việc chữa bệnh và giúp chúng tôi giới thiệu đến mọi người biết
hưởng ứng.
Mọi
ý kiến đóng góp, bổ sung, hay có nhu cầu về sách thuốc, xin quí vị vui lòng
liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại : 0983.710.463 – 0908.694563 (Nguyên Chương), địa chỉ : TỊNH THẤT NGUYÊN
CHƯƠNG, tổ 2, thôn Khánh An, xã Tam Dân, huyện Phú Ninh, tỉnh, Quảng Nam, chúng
tôi sẽ hoan hỷ tiếp thu, hoặc gởi sách đến tận nơi kính biếu. Hoặc vào Google :
thichnguyenchuong.blogspot.com để tra cứu các nội dung : SÁCH THUỐC Nguyên
Chương, GIÁO LÝ Nguyên Chương, HÌNH ẢNH SINH HOẠT Nguyên Chương, THƠ VĂN Nguyên
Chương.
Nhân đây, xin chân thành cảm ơn Giáo sư Tiến
sĩ Đỗ Tất Lợi, Phó tiến sĩ Võ Văn Chi, Bác sĩ Nguyễn Công Tỷ và Lương y Huỳnh
Văn Thanh, các tòa soạn báo chí, các phương tiện truyền thông, các tác giả trên
mạng internet đã tạo duyên cho chúng tôi trích dẫn một số tài liệu liên quan để
thực hiện tập sách nhỏ nầy. Xin cảm ơn các vị lương y thân hữu đã trực tiếp góp
ý. Xin thành tâm hồi hướng tất cả công đức có được đến quý vị và gia quyến.
Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật,
Nam Mô Thường Hoan Hỷ Bố Thí BồTát
Ma Ha –Tát.
THÍCH NGUYÊN CHƯƠNG
TÊN CÁC CÂY THUỐC ĐƯỢC
SẮP XẾP
THEO MẪU TỰ A-B-C…
***********************
CHÈ DÂY
Mô tả : Dây leo, cành
hình trụ mảnh, tua cuốn đối diện với lá, chia 2-3 nhánh. Lá hai lần kép, mang
7-12 lá chét mỏng, giòn, mép có răng thấp, gân bên 4-5 đôi, lá kèm gần tròn, dạng
vảy. Ngù hoa đối diện với lá có 3-4 nhánh, nụ hoa hình trứng, hoa mẫu 5. Quả mọng
hình trái xoan to 6x5mm, màu đen, chứa 3-4 hạt.
Phân bổ
: Cây mọc leo lên bờ bụi ở vùng đồi núi. Ra hoa
tháng 6-7, có quả, tháng 9-10. Có ở khắp vùng đồi núi nước ta.
Bộ phận
dùng : Toàn cây.
Tính vị
- Tác dụng : Vị ngọt, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt,
giải độc, khư phong thấp, cường gân cốt. Rể cây lợi thuỷ tiêu thủng, chỉ thống.
Cành lá còn có tác dụng an thần, giảm đau, làm liền sẹo, làm giảm đau dạ dày.
Công dụng
:
Chè dây tính mát, ngọt thông
Thanh nhiệt, giải độc, khư phong thấp nề
Cường gân cốt, giảm đau ê
An thần, liền sẹo chớ hề lo chi
Dạ dày đau quặn tức thì
Sắc uống mấy nắm một khi hết liền.
MỘT SỐ BÀI THUỐC CHỮA BỆNH
Chè dây hiện nay thương lái Trung Quốc
đang tận thu mua nên có nguy cơ tuyệt chủng nếu không có kế hoạch tái sản xuất.
Vì nó có tác dụng chữa viêm loét dạ dày hành tá tràng rât hiệu nghiệm. Nhất là
tiệu diệt được vi rút HP (Helicobrater
Pylori), là loại vi rút rất khó diệt, nếu dùng thuốc Tây phải nâng liều
liên tục dễ làm tổn thương dạ dày và gan. Sau đây là một số bài thuốc chữa bệnh
phối hợp với các vị thuốc khác :
1. Ngâm rượu : Dầm rượu với thân và rể Chè dây uống
hằng ngày có tác dụng mạnh gân cốt, chống đau nhức xương khớp.
2. Viêm loét dạ dày, hành tá tràng, HP dạ
dày : Chè dây 20g, lá Khôi tía 15g, Dạ cẩm 15g, lá Cần sen 10g. Sắc nước
1 với 6 chén nước 1 còn 1 chén uống lúc còn nóng. Tiếp tục sắc nước 2 với 5 chén
nước còn 1 chén uống lúc còn nóng. Uống trước các bữa ăn chính. Uống liên tục
15 ngày kiểm tra lại thấy bệnh giảm rõ rệt. Uống tiếp cho đến khi lành hẵn.
Bài thuốc nầy Nguyên Chương đã chữa cho
nhiều người bệnh nặng kết quả rất tốt.
Có
thể uống thêm hộp Thực phẩm chức năng “Cunma
GOLD” có bán ở các tiệm thuốc Đông Tây y. Hoặc dùng 1kg nghệ tươi cạo vỏ, rửa
sạch, xắc lát, xay mịn, rồi thêm vào ½ lít mật ong rừng, trộn đều, cất vào tủ lạnh
để dành. Uống mỗi lần 1 muỗng canh, ngày 3 lần trước bữa ăn chính.
Lá Chè dây có thể nấu nước uống hằng
ngày thay chè thường để giải khát và phòng bệnh.
Nổi bật
nhất là công trình nghiên cứu của PGS. TS Vũ Nam, PGĐ Bệnh Viện Y Học Cổ Truyền
Trung Ương đã đưa ra các kết quả rất đáng chú ý đối với người bị đau dạ dày như
:
1. Chè Dây (hay còn gọi là Trà Dây) giúp cắt cơn
đau do loét dạ dày, hành tá tràng tới 93,4%. Cao hơn so với thuốc tây Alusi
chuyên trị viêm loét dạ dày (89%)
hiện nay.
2. Giúp làm
liền vết loét dạ dày, hành tá tràng là 79%, trong khi thuốc Alusi chỉ là 50%.
3. Giúp làm
sạch vi khuẩn HP ( Helicobacter Pylori )
khỏi dạ dày là 42,5%, trong khi Alusi chỉ đạt 19%.
4. Tác dụng
giảm viêm tới 67,45%, cao hơn khá nhiều so với Alusi là 36,3 %.
5. Giảm
tiết dịch và trung hoà axit trong dạ dày.
6. Giúp
kích thích tiêu hóa thức ăn, ăn ngon miệng hơn.
7. An
thần, giúp ngủ ngon giấc.
8. Mát gan, thanh nhiệt, giải độc cơ
thể.
Đặc
Biệt : Chè dây
có tính bình rất lành, không ảnh hưởng tới chức năng sinh lý của Nam giới khi
sử dụng lâu dài.
Những ai nên dùng Trà Dây ?
- Người bị đau, viêm loét dạ dày hành tá
tràng,
- Người bị nhiễm vi khuẩn HP (Helicobacter Pylori),
- Người bị viêm trợt hang vị, bờ cong
nhỏ dạ dày,
- Người bị chướng bụng, đầy hơi, ợ chua,
trào ngược dịch dạ dày,
- Người tiêu hóa kém, ăn uống khó tiêu,
mất ngủ thường xuyên,
- Người bị
đau rát thượng vị.
Ngoài ra, người
bình thường cũng uống được chè dây để tăng cường sức khỏe cũng như phòng chống
bệnh đau dạ dày.
Chú ý : Tuy
nhiên do tùy thuộc cơ địa của từng người nên sẽ có người uống có tác dụng, có
người uống không mang lại hiệu quả như mong muốn.
NHỮNG LỢI ÍCH KHI DÙNG TRÀ DÂY
1. Hiệu quả
điều trị các bệnh lý về dạ dày không thua kém gì thuốc tây, thậm chí còn hơn cả
thuốc tây.
2. Không có
tác dụng phụ gây ảnh hưởng đến gan, thận, sức khỏe như thuốc tây.
3. Giá
thành lại rẻ hơn thuốc tây và các loại thuốc Đông y khác rất nhiều.
4. Điều trị tại nhà nên rất tiện.
5. Trẻ em
trên 5 tuổi cũng có thể dùng được chè dây để điều trị đau dạ dày do nhiễm khuẩn
HP (lây qua đường ăn uống ) nhưng
uống với liều lượng thấp hơn.
6. Gần như
ai uống cũng hợp, ai uống cũng khỏi, không kén như các loại thuốc Đông Y .
Sử dụng Chè
Dây là cách Rẻ tiền nhất trong tất cả các phương pháp chữa đau dạ dày.
Chè dây
ĐỊA HOÀNG
(Sinh địa,
Thục địa)
Mô tả : Cây thảo sống
nhiều năm cao 20-30cm, toàn cây có lông mềm và lông tiết màu tro trắng. Rể mẫm
lên thành củ. Lá mọc vòng ở gốc, phiến lá hình bầu dục, gốc thuôn, đầu tròn,
dài 3-15cm, rộng 1,5-6cm, mép khía răng tròn không đều, gân lá hình mạng lưới nổi
rất rõ ở mặt dưới làm cho lá bị rộp chia lá thành những múi nhỏ. Hoa mọc thành
chùm trên một cuốn chung dài ở đầu cành. Đài và tràng đều hình chuông, tràng
hơi cong dài 3-4cm, mặt ngoài tím đậm, mặt trong hơi vàng với những đốm tím. 4
nhị, nhị trường. Quả hình trứng, chứa
nhiều hạt nhỏ.
Phân bổ
: Cây có ở Trung Quốc, từ năm 1958 nhập trông ở
nước ta. Hiện nay được phát triển ở khắp nơi từ Bắc đến Nam.
Cây thích hợp với đất phù sa, đất thịt. Nhân giống bằng những mầm rể dài
1-2cm. Sau khi trồng 6 tháng có thể thu hoạch. Mỗi năm thu hai vụ vào tháng 2-3
và 8-9. Ra hoa tháng 4-5, có quả tháng 5-6.
Bộ phận
dùng : Rể củ nên thường gọi là Địa hoàng. Chọn ngày
nắng ráo để đào củ. Củ tươi hình thoi hay hình trụ cong queo, dễ bẻ gãy. Mặt
ngoài màu vàng đỏ, có những vùng thắt lại chia củ thành từng khoanh. Trên các
rãnh có vết mầm.
Tuỳ theo cách chế biến, ta có Sinh địa hoàng
và Thục địa hoàng.
Sinh
địa : Củ Địa hoàng đã được chọn
lựa rồi rải vào lò sấy trong 6-7 ngày cho khô đều.
Thục
địa : Củ lấy về ngâm nước, cạo sạch đất. Lấy những củ vụn nát nấu lấy
nước, nước đó tẩm những củ đã được chọn rồi đem đồ, xong phơi khô. Rồi lại tẩm
và đồ. Tẩm và đồ như vậy 9 lần, đến khi thấy màu đen nhánh là được. Có nơi người
ta dùng rượu nấu rồi dùng nước Gừng ngâm, nấu và ngâm nhiều lần cho đến khi củ
có màu đen là được. Khi nấu chỉ dùng nồi đất hay thuỷ tinh.
Tính vị
- Tác dụng : Địa hoàng tươi có vị ngọt, đắng, tình hàn, có
tác dụng thanh nhiệt, mát máu. Sinh địa có vị ngọt, tính hàn, có tác dụng tư
âm, dưỡng huyết. Thục địa có vị ngọt,
mùi thơm, tính hơi ôn, có tác dụng nuôi thận, dưỡng âm, bổ huyết, làm đen râu
tóc.
Công dụng
:
Sinh địa ngọt, đắng, tính hàn
Thanh nhiệt, mát huyết, khư hàn, sinh tân
Thục địa vị ngọt, tính ôn
Dưỡng âm, tráng thận, bảo tồn huyết thanh.
MỘT SỐ BÀI THUỐC CHỮA BỆNH
- Khi cơ thể bị huyết nhiệt, dẫn đến xuất huyết : Thục địa, Mẫu đơn bì, Trắc bá diệp (sao cháy) mỗi vị 20g, Tê giác 10g, Hoa hòe (sao đen) 10g.
Sắc uống.
- Trị táo bón : nhất là sau thời kỳ bị sốt, nhiệt làm tổn
thương tân dịch, người khô héo, Thục địa, Huyền sâm, Mạch môn, Thảo quyết minh
mỗi vị 20g. Sắc uống.
- Trị bệnh tiểu đường : Tiên địa hoàng và Can địa hoàng, tính hàn, lương, có tác dụng
sinh tân chỉ khát tốt, dùng trị bệnh tiểu đường tốt hơn Sinh địa. Nếu có điều kiện
dùng riêng Tiên địa hoàng hoặc Can địa hoàng, mỗi ngày 16 -20g, sắc uống.
Còn
với Sinh địa, có thể dùng phương Lục vị: Sinh địa, Hoài sơn mỗi vị 20g; Thạch hộc, Mẫu
đơn bì mỗi vị 12g; Thiên hoa phấn, Sa sâm, Sơn thù du mỗi vị 8g. Sắc uống ngày
1 thang, uống liền 2 - 3 tuần lễ.
Thục địa có vị ngọt, tính ấm, vào 3 kinh tâm, can, thận.
Có công năng tư âm, dưỡng huyết, sinh tân chỉ khát, bổ thận âm. Được dùng chủ
yếu để bổ huyết trong các trường hợp :
- Thiếu máu, chóng mặt, đau đầu, tân dịch khô sáp,
mắt khô, râu tóc bạc sớm : Thục địa, Đương quy, Xuyên khung, Bạch thược mỗi vị 12g, Huyết
đằng 15g. Sắc uống ngày 1 thang, uống liền 2 -3 tuần lễ.
- Hoặc
bổ cả khí và huyết, trong trường hợp khí huyết lưỡng hư, da xanh xao, người mệt
mỏi : Thục địa, Đương quy, Bạch truật, Bạch linh, Nhân sâm, Bạch thược
mỗi vị 12g; Xuyên khung 8g; Cam thảo 6g. Sắc uống ngày 1 thang, uống liền 2 - 3
tuần lễ.
Lưu ý :
- Những người tỳ hư,
dương hư, đầy trướng bụng, phân nát, lỏng không nên dùng Sinh địa.
- Tránh nhầm lẫn cây Sinh địa hoàng với cây Dương địa hoàng và cây Dương địa hoàng lông đều thuộc họ hoa mõm sói. Cả hai cây đều mọc hoang và được trồng ở châu Âu và Bắc Mỹ để lấy nguyên liệu chiết xuất glycosid tim, được di thực vào nước ta.
- Tránh nhầm lẫn cây Sinh địa hoàng với cây Dương địa hoàng và cây Dương địa hoàng lông đều thuộc họ hoa mõm sói. Cả hai cây đều mọc hoang và được trồng ở châu Âu và Bắc Mỹ để lấy nguyên liệu chiết xuất glycosid tim, được di thực vào nước ta.
Địa hoàng
HUYẾT ĐẰNG
(Hồng đằng,
Kê huyết đằng)
Mô tả : Còn có tên khác : Thuyết đằng, Hoạt huyết đằng, Đại Hoạt Đằng,
Huyết Phong Đằng, Mã Nhung Đằng, Tử Ngạnh Đằng, Trư Huyết Đằng, Cửu Tằng Phong,
Hoạt Huyết Đằng, Đại Huyết Đằng, Huyết Long Đằng, Ngũ Tằng Huyết, Quá Chương
Long, Việt Nam gọi là Dây Máu Người, đồng bào dân tộc gọi là Gắm huyết.
Cây Huyết đằng là cây thuốc quý, dạng dây leo
cao đến 10m. Lá kép gồm 5-7 hoặc 9 lá chét. Cụm hoa hình chùy ở ngọn dài 15-20cm.
Hoa màu đỏ dài 15mm, xếp rất sít nhau. Qủa màu đỏ nâu dài 12cm, có 36 hạt, xếp
thành chùm, khi chín có màu lam đen.
Chặt cây có nhựa màu đỏ chảy ra như máu.
Phân bổ
: Mọc rải rác ở bìa rừng ven suối thuộc vùng rừng
rậm nhiệt đới ở độ cao 600-1.500 mét. Ra hoa tháng 3-5, có quả tháng 8-10. Phân
bố khắp vùng núi cao phía Bắc và miền Trung nước ta.
Bộ phận
dùng : Thân cây, thường có tên là Đại huyết đằng. Rễ
cũng được dùng. Có thể thu hái thân cây quanh năm. Trước hết chặt từng đoạn dài
chừng 5 tấc, để 3-5 ngày cho se bớt, rồi đem ngâm rửa sạch, xắc lát mỏng, phơi
khô. Khi chặt nhựa cây chảy ra như máu, lấy bát hứng phơi khô để dùng.
Thân khi xắc lát có từng vòng màu nâu mới tốt. Còn không có thì gọi là Bạch
Huyết đằng không tốt bằng.
Tính vị
- Tác dụng : Vị đắng chát, tính bình, có tác dụng thanh
nhiệt, giải độc, hoạt huyết, khư phong.
Công dụng
:
Huyết đằng đắng, chát, tính bình
Thanh nhiệt, giải độc, mẫy mình nhức đau
Huyết hư, xây xẫm trên đầu
Tán huyết, hoạt huyết nhiệm mầu thuốc tiên.
MỘT SỐ BÀI THUỐC CHỮA BỆNH
1.Phong thấp, gân xương đau nhức, tay chân đau mỏi, co quắp, tê dại hoặc
sưng nề : Huyết dằng 30g, Cẩu tích,
Ngưu tất, tì giải, Cốt toái bổ mỗi vị 20g, Bạch chỉ 4g, Thiên niên kiện 6g. Sắc
uống.
2.Huyết hư, đầu xây xẫm, chóng mặt, đau nhói vùng tim, tim đập không đều
: Huyết đằng 20g, Huyền sâm, Mạch môn, Ngưu tất, hạt Muồng (sao) mỗi vị 15g, Tim sen 4g, Thục địa
15g. Sắc uống trong ngày.
3. Chữa
ung thư máu : Mỗi ngày dùng 40g Huyết đằng tươi hay 30g khô
sắc uống. Uống liên tục 15 ngày kiểm tra thấy đở thì uống tiếp cho đến khi hết
bệnh. Thường là 3-5 tháng.
Kiêng kị khi dùng :
-Người huyết không hư, thiên về huyết ứ, khí trệ
không
dùng.
-Uống sau bữa ăn, vì uống lúc bụng đói hay buồn
nôn.
-Dùng đúng liều quy định.
Cây
(Dây) Huyết đằng và hoa
Thân Huyết đằng xắt lát
)
NGƯU BÀNG
Mô tả : Cây thảo lớn, sống 2 năm, có thân thẳng có
khía và phân nhánh, cao 1-2m. Lá hình
trái xoan, mọc thành hình hoa thị ở gốc và mọc so le ở trên thân, phiến lá to,
rộng tới 50cm, gốc hình tim, đầu tù hay nhọn, mép có răng hay lượn sóng, có nhiều
lông trắng ở mặt dưới. Hoa đỏ hay tím nhạt hợp thành cụm hoa đầu to 3-4cm, các
lá của tổng bao kéo dài thành mũi nhọn, có móc ở chóp. Quả bế, màu xám nâu điểm hồng, có nhiều móc
quặp, phía trên có một mào lông ngắn màu vàng nhạt.
Phân bổ
: Cây mọc ở các trảng cỏ trên núi ở độ cao
1.000-2.000m, và thương được trồng. Ra hoa tháng 6-7, có quả tháng 8-9.
Bộ phận
dùng : Quả, rể, thân, lá.
Sang năm thứ hai, khi cây có quả, thu hái cụm quả chín, phơi khô rồi lấy
quả (thường gọi là hạt) dùng sống hoặc
sao qua đến thơm nổ lép bép là được, giã nát dùng vào thuốc thang. Rể thu hái
vào mùa thu năm đầu hoặc mùa thu năm thứ hai, dùng tươi hay phơi khô nhiệt độ
70 độ C, sau khi đã chẻ dọc rể. Lá thường dùng tươi.
Tính vị
- Tác dụng : Quả có vị cay, đắng, tính hàn, có tác dụng sơ
phong tán nhiệt, tuyên phế, thấu chẩn, tán kết giải độc.
Bộ phận dùng làm thuốc là quả (Ngưu
bàng tử), rễ (Ngưu bàng căn).
Theo Tây y, rễ Ngưu bàng có tác dụng lợi tiểu, ra mồ hôi, thường dùng chữa tê
thấp, sưng đau khớp và một số bệnh ngoài da. Theo Đông y, ngưu bàng tử vị cay,
đắng, tính hàn, có tác dụng tán phong nhiệt, thanh nhiệt, giải độc…, chữa cảm
cúm, viêm tuyến vú, viêm phổi, viêm họng, viêm tuyến nước bọt, viêm tai giữa,
mụn nhọt, sởi, đậu và một số bệnh ung thư…
Dandelion and burdock (Bồ công anh và Ngưu bàng) là một loại nước giải khát phổ biến từ
lâu ở Vương quốc Anh, và các công thức đích
thực được các của hàng thực
phẩm bổ dưỡng bán,
nhưng không rõ là tại các siêu thị thì loại đồ uống có tên gọi như vậy có thực
sự chế biến từ các loài cây này hay không. Người ta cho rằng Ngưu bảng có chứa
các chất làm gia tăng tiết sữa.
Trong y học cổ truyền, người ta cho rằng Ngưu bàng có tác dụng lợi
tiểu,
tăng bài tiết mồ hôi và có tác dụng lọc máu. Hạt được sử dụng
trong y học cổ truyền
Trung Hoa,
dưới tên gọi ngưu bàng tử.
Ngưu bàng đã từng là cây thuốc được ưa chuộng trong nhiều thế kỷ và được
sử dụng để điều trị nhiều loại bệnh. Tinh dầu chiết từ rễ Ngưu bàng khá phổ
biến tại châu Âu trong các loại thuốc điều trị trên da đầu như làm cho tóc bóng
và khỏe hơn. Nó cũng được dùng để chống ngứa và gàu trên đầu. Các nghiên cứu hiện đại cho
thấy tinh dầu từ rễ Ngưu bảng chứa nhiều các phytosterol và các axít béo, là các chất dinh dưỡng cần thiết để duy trì
da đầu khỏe mạnh và tăng cường sự phát triển tự nhiên của tóc.
Lưu ý : Do cây có tính hàn nên người tỳ vị hư hàn (lạnh bụng, ăn uống chậm tiêu, không muốn
ăn, thích ăn uống ấm nóng…) không được dùng.
Công dụng
:
Ngưu bàng vị đắng, tính hàn
Thanh tâm, giải độc, trấn kinh, an thần
Hôn mê thần trí, trúng phong
Cổ họng sưng nhức. Thai mang không dùng.
MỘT SỐ BÀI THUỐC CHỮA BỆNH
1. Chữa
đậu chẩn mọc trong cổ họng : Ngưu bàng tử 8g, Cát cánh 6g, Cam
thảo 3g. Sắc uống ngày một thang.
2. Chữa cảm mạo, thủy thũng, chân tay phù : Ngưu bàng
tử 80g, sao vàng, tán bột. Ngày uống 8g chia ba lần. Dùng nước nóng chiêu
thuốc.
3. Chữa phù thũng cấp tính : Ngưu bàng tử 6g nửa sao, nửa sống, phù bình (bèo cái) sao khô 6g. Tất cả đem tán nhỏ,
ngày uống 3 lần, mỗi lần 5g. Dùng nước nóng chiêu thuốc.
4. Chữa viêm tuyến vú : Ngưu bàng tử 12g, Sài đất tươi 20g, Bồ công anh 20g, Cam
thảo đất 16g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần.
5. Chữa nước tiểu sẻn đỏ, ít : Ngưu bàng tử 12g, Mã đề 30g, Rau sam 20g. Sắc uống ngày
một thang.
6. Chữa mụn nhọt : Ngưu bàng tử 12g, Sài đất tươi 20g, Kim ngân hoa 20g,
Cam thảo đất 16g. Sặc uống.
7. Chữa viêm họng : Ngưu bàng tử 12g, lá Húng chanh 12g, lá Rẻ quạt 5g, Cam
thảo đất 16g. Sắc uống ngày một thang.
8. Chữa ung thư cổ tử cung : Ngưu bàng căn 20g, Chư
thực tử 20g. Các vị tán bột, uống ngày 2-3 lần, mỗi lần 6-8g.
(16)
9. Chữa các loại ung thư : Ngưu bàng tử 20g. Sắc uống ngày một thang.
10. Chữa ung thư vú : Ngưu bàng tử 60g, sao vàng tán bột, ngày uống 2-3 lần,
mỗi lần 6-8g.
11. Chữa ung thư đại tràng : Ngưu bàng
căn 20g, Xích tiểu đậu 8g, Đương quy 12g, Đại hoàng 6g, Bồ công anh 12g. Tất cả
đem xay nhỏ hoặc tán bột, ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 6-10g.
12. Trẻ con khóc đêm : Ngưu bàng tử tán bột mịn, băng
đắp vào rốn trẻ. Ngày thay thuốc 1 lần.
Ngưu bàng
TẦM MA
(Cây lá gai, Trử ma)
Mô tả : Cây tầm ma (Urticaceae)
là thể cây bụi. Cây sống lâu năm, có chiều cao khoảng 1-2m, sinh sôi nhiều nhất
vào mùa hè. Lá dùng làm bánh ít lá gai. Lá mọc so le, hình tim, dài 7-15cm,
rộng 4-8cm, có răng cưa, đáy hình tim hay tròn, mặt dưới trắng vì có nhiều lông
trắng, mặt trên có màu lục sẫm, có 3 gân từ cuốn phát ra. Hoa đơn tính cùng
gốc. Quả bế, mang đài tồn tại. Vỏ tướt ra dùng lám sợi đan lưới đánh cá.
Tên nước ngoài thường gặp của cây Tầm ma là: Nettle, Big
String Nettle, Common Nettle, Stinging Nettle, Gerrais, Isirgan, Kazink, Nabat
Al Nar, Ortiga, Grande Ortie, Ortie, Urtiga, Chichicaste, Brennessel, Gross
d’Ortie, Racine d’Ortie, Grote Brandnetel, Ortiga Mayor, Devils Leaf.
Phân bổ : Được trồng khắp ở nước ta chủ yếu để
lấy lá làm bánh và vỏ làm sợi đan lưới. Rể ít được khai thác, người ta đào lấy
rể về rửa sạch, cắt thành miến hoặc để nguyên rồi phơi hay sấy khô.
Bộ phận dùng : Lá, vỏ, rể.
Tính vị - Tác dụng : Cây có vị ngọt đắng, tính
mát, đi vào hai kinh tâm, thận; thường dùng để trị các bệnh đường tiểu như: bí
tiểu, tiểu đục, tiểu ra máu, còn dùng để cầm máu và trị động thai.
Lá và rễ cây này đều dùng làm thuốc.
Lá bánh gai thu hái vào mùa hè, phơi khô, tán bột để làm bánh. Thân cây có sợi dùng để dệt bao
bố.
Rễ được gọi là Trữ ma căn, hái vào bất cứ
mùa nào, nhưng tốt nhất là vào thu đông. Hái về rửa sạch đất, phơi hay sấy khô.
Rễ có vị đắng, tính hơi hàn, quy kinh tâm, thận. Tác dụng thanh nhiệt giải độc,
tán ứ, thông lâm, an thai. Dùng trong các trường hợp đơn độc, sang lở, đái
buốt, đái rắt, phụ nữ có thai đau bụng, ra huyết, xích bạch đới, viêm cổ tử
cung. Liều dùng 10 - 20g.
Công dụng
:
1. Làm Đẹp :
Lá cây Tầm ma giã nát bôi lên :
·
Trị mụn trứng cá,
·
Se khít lỗ chân lông,
·
Điều trị bỏng da, giảm sẹo,
·
Trị rụng tóc, dưỡng tóc, trị gầu bằng chiết
xuất cây Tầm ma.
2. Trị bệnh viêm khớp : cây Tầm ma xay lấy nước
hoặc sử dụng chiết xuất cây Tầm ma bôi trực tiếp lên các cơ bắp, khới giúp
kháng viêm, giảm đau hiệu quả.
3. Điều trị u xơ tiền liệt
tuyến (gọi tắt là BPH) : Cây Tầm ma là một trong những thành phần
thảo dược trong bài thuốc điều trị bệnh BPH và các bệnh liên quan đến tuyến
tiền liệt ở giai đoạn đầu mới phát hiện; giúp cải thiện sức khỏe của tuyến tiền
liệt.
4.
Trị nhiễm trùng đường tiểu : trong cây Tầm ma có thành
phần giúp lợi tiểu; chiết xuất cây Tầm ma được chỉ định dùng trong trường hợp
nhiễm trùng đường tiểu, bàng quang, và các vấn đề đường tiết niệu khác.
6. Giảm triệu chứng dị ứng : trong cây Tầm ma có
thành phần histamine – kháng viêm mũi dị ứng theo thời tiết, chống dị ứng thực
phẩm.
7. Giúp cầm máu, điều trị bệnh thiếu
máu : do cây Tầm ma rất giàu
sắt.
8. Giúp thanh lọc cơ thể : chức năng này rất quan
trong trong quá trình điều trị bệnh yếu sinh lý nam giới.
9. Cải thiện ham muốn tình dục : chiết xuất cây Tầm ma
tăng cường sản sinh nồng độ nội tiết tố nam
testosterone, giúp cơ thể duy trì kích thích, tăng ham muốn.
Cẩn thận khi Sử Dụng Cây Tầm Ma
Cây tầm ma là loại thảo dược có công dụng tốt, nhưng không nên quá lạm
dụng vì nếu sử dụng quá nhiều sẽ làm :
·
Có khả năng làm tăng huyết áp,
·
Ngăn cản quá trình máu đông,
·
Do lợi tiểu mạnh, nên có nguy cơ mất nước
cao…
Và đó cũng là nguyên nhân tại sao trong các phương thuốc có mặt cây tầm
ma, thì lượng Tầm ma chỉ chiếm một lượng vô cùng nhỏ.
Hiện nay cây Tầm ma được sử dụng dưới nhiều hình thức khác nhau : hãm
chung với trà, chiết xuất, viên nén, và dạng thực phẩm chức năng được kết hợp
với nhiều loại thảo dược thiên nhiên khác để liệu trình điều trị bệnh đạt được
kết quả tối ưu nhất, và an toàn nhất cho người sử dụng.
Tầm ma (cây Lá Gai)
THIÊN NIÊN KIỆN
(Sơn thục, Thần phục)
Mô
tả : Cây thảo sống lâu năm nhờ thân rể mập, bò dài, thơm, khi bẻ ngang
có xơ như kim. Lá mọc từ thân rể, phiến lá sáng bóng, dài tới 30cm, có 3 đôi
gân gốc, 7-9 đôi gân bên. Cụm hoa là những bông mo, có mo màu xanh, dài 4-6cm,
không rụng, buồng 3-4cm, ngắn hơn mo, bầu chứa nhiều noãn. Quả mọng thuôn, chứa
nhiều hạt có rạch.
Phân bổ : Phổ biến ở Việt Nam. Cây mọc hoang dưới tán rừng thường xanh, nơi ẩm,
cạnh suối hay dọc theo hai bên bờ khe suối. Người ta thường trồng làm cảnh vì
dáng sáng và có hoa đẹp.
Bộ phận
dùng : Thân rể.
Tính vị
- Tác dụng : Vị đắng, cay, mùi thơm, tính ấm, có tác dụng
khư phong thấp, bổ gân cốt, chỉ thống tiêu thũng.
Công dụng
:
Sơn thục ngọt, ấm, đắng, cay
Khu phong, trừ thấp, lại hay tê người
Khớp xương đau nhức mười mươi
Chân tay co quắp, làm vơi phù nề.
MỘT SỐ BÀI THUỐC CHỮA BỆNH
1. Chữa thấp khớp, đau nhức xương :
a.
Thiên niên kiện 10g, Hy thiêm 20g, Mộc qua 15g, Ngưu tất 5g. Sắc
uống ngày 1 thang.
b.
Thiên niên kiện, Dây chiều, Kê huyết đằng, Đan sâm, Thục địa,
Xích thược, Thổ phục linh, Độc hoạt, Khương hoạt, Tang ký sinh, Đỗ trọng mỗi vị
12g; Đảng sâm 20g, Hoài sơn 16g, Ngưu tất 10g, Nhục quế 8g. Sắc uống ngày 1
thang.
c.
Thiên niên kiện, Kê huyết đằng, Hà thủ ô trắng, Ngũ gia bì mỗi
thứ 50g ngâm rượu, sau 3 tháng thì uống theo bữa cơm mỗi lần 1 chén nhỏ.
d.
Thiên niên kiện 12g, Rễ cỏ xước 40g, Hy thiêm 28g, Thổ phục linh
18g, Cỏ mực 16g, Ngải cứu 12g, Thương nhĩ tử (sao vàng) 12g. Sắc uống ngày 1 thang.
e.
Thiên niên kiện 12g, rễ Bưởi bung 10g, quả Dành dành 8g. Sắc
hoặc ngâm rượu uống.
f. Thiên niên kiện, Kim ngân, Cỏ xước,
Thổ phục linh, Hy thiêm, Ké đầu ngựa, Cây xấu hổ, Dây đau xương, Cà gai leo.
Các vị lượng bằng nhau, rửa sạch, đun kỹ, cứ 1kg dược liệu khô sắc lấy 1 lít
nước thuốc, chế thành rượu thuốc hoặc si-rô để uống.
g. Thiên niên kiện 12g, Cốt toái bổ
10g, Bạch chỉ 8g. Sắc uống.
2.
Chữa đau bụng kinh : Thiên
niên kiện, Rễ bưởi bung, Rễ bướm bạc, Gỗ vang, Rễ sim rừng, các vị bằng nhau.
Sắc uống.
3. Chữa dị ứng, mẩn ngứa, lở sơn : Thiên niên kiện, Sả, Gừng mỗi
vị 10g. Sắc uống trong ngày.
Xin được nói thêm, Thiên niên kiện là
vị thuốc được danh y Triệu Học Mẫn (1719-1805)
ghi nhận đầu tiên ở Trung Quốc trong sách Bản thảo cương mục thập di biên soạn
năm 1803. Trong khi đó, Thiền sư Tuệ Tĩnh trong Nam dược thần hiệu (quyển 10, chương 1, tiết 3) có ghi nhận
một bài thuốc kinh nghiệm rất hay: dùng Thiên niên kiện và hạt Gấc mài với rượu
ngon phết lên nhọt độc chạy chỗ này sang chỗ khác.
Và, trong Hồng Nghĩa giác tư y thư cũng của Tuệ Tĩnh, do Y
viện triều Lê Dụ Tông khắc in năm 1723, thì ghi nhận vị thuốc này dưới các tên
Ráy xước hay Sơn phục: “cây Ráy xước người rằng Sơn phục” (Nam dược quốc âm phú).
Một số địa phương như Quảng Nam ngày nay vẫn gọi tên Sơn phục, Thần phục hay
Tầm phục cho các loài Thiên niên kiện.
Như vậy, so với y văn Trung Quốc, y văn
Việt Nam đã ghi chép về vị thuốc này sớm hơn ít nhất là một thế kỷ. Hiện nay, Trung
dược đại từ điển chép
về vị thuốc này vẫn còn khá sơ sài, đặc biệt không kèm theo một bài thuốc nào.
Trong khi đó, sách Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt
Nam của tập thể tác giả Viện Dược liệu giới thiệu về cây
thuốc này khá phong phú.
Thiên niên kiện
Củ Thiên niên kiện
TÀI LIỆU
THAM KHẢO
-
Bộ sách Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của Giáo sư Tiến sĩ Đỗ Tất Lợi,
-
Bộ Tự điển Cây thuốc Việt Nam (tập 1-2) của Phó tiến sĩ Võ Văn Chi,
-
“Dược liệu Miền Nam & Công dụng” của bác sĩ Nguyễn Công Tỷ và lương y Huỳnh
Văn Thanh, Uỷ ban Khoa học tỉnh Tây Ninh phát hành.
-
Trên mạng internet,
-
Báo Khoa học & Đời sống,
-
Báo Pháp luật & Đời sống,
-
Báo Đà nẵng điện tử,
-
wikipedia.
Cây Nghệ và hoa
(HẾT TẬP 5)
Phú Ninh – Quảng Nam
Mùa An cư PL.2561
(tháng 8-2017)
THÍCH
NGUYÊN CHƯƠNG
*****
***
*











Chân thành cảm ơn lòng tốt của thầy. Kính chúc thầy nhiều sức khỏe để làm kiếp tằm nhã tơ cho trọn vẹn. Bs Huỳnh Hải
Trả lờiXóathuốc cai nghiện ma túy Bông Sen
Trả lờiXóathuốc cai nghiện ma túy Bông Sen chính hãng
thuốc cai nghiện ma túy Bông Sen