Thứ Hai, 28 tháng 11, 2016



Một số
CÂY THUỐC NAM
Thông dụng
(TẬP 2)

PHÁT HÀNH LẦN 1 (cuối tháng 11-2016)

NGUYÊN CHƯƠNG
Sưu tầm


LƯU HÀNH NỘI BỘ
(sách tặng không bán)

TỊNH THẤT NGUYÊN CHƯƠNG
Tổ 2, thôn Khánh An, xã Tam Dân, huyện Phú Ninh,
Tỉnh Quảng Nam

hoa Chó đẻ


ĐÔI LỜI TÁC BẠCH

        Sau một thời gian sưu tầm và phát hành quyển “MỘT SỐ CÂY THUỐC NAM THÔNG DỤNG” tập 1, được sự động viên và quan tâm của thập phương, tôi rất cảm động và xin chân thành tri ân sự động viên đó.
        Nay có nhân duyên, tôi xin giới thiệu tiếp tập sách nhỏ “MỘT SỐ CÂY THUỐC NAM THÔNG DỤNG” tập 2. Trong mỗi gia đình nên trồng những cây thuốc nầy, xem như có một vị thầy thuốc Nam thường trực trong nhà, sẽ tự chữa được những bệnh thường gặp nhất, không cần phải đi xa. Vì hiện nay ở nước ta thuốc Nam được xem là vị thuốc chữa bệnh hiệu quả và ít tốn kém nhất được đa số người dân tin dùng, nhất là những người nghèo không đủ điều kiện đến bệnh viện, hay ở quá xa nhà thương, y bác sĩ. Theo kinh nghiệm, trồng thuốc Nam trên đất tự nhiên dược tính cao hơn trồng trong chậu kiểng. Chúng ta cũng biết Trung Quốc họ đã và đang sang sục sạo tìm mua cây thuốc ở nước ta khắp nơi, đem về sao chế (có thể đã rút bớt tinh chất) rồi bán lại dưới tên gọi tiếng Tàu, chúng ta gọi là thuốc Bắc. Tại sao chúng ta không chịu dùng cái chúng ta có sẵn mà cứ vọng ngoại một cách sai lầm ngớ ngẩn ?
        Mong quý vị đón nhận sự tận tâm nầy của chúng tôi với sự tin tưởng cao để tiện lợi tham khảo trong việc tự chữa bệnh và giúp người khác chữa bệnh. Rất mong thập phương giúp chúng tôi giới thiệu các tập sách nầy đến mọi người biết hưởng ứng.
        Mọi ý kiến đóng góp, bổ sung, hay có nhu cầu về sách thuốc, xin quí vị vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại : 0983.710.463 – 0908.694563 (Nguyên Chương), địa chỉ : TỊNH THẤT NGUYÊN CHƯƠNG, tổ 2, thôn Khánh An, xã Tam Dân, huyện Phú Ninh, tỉnh, Quảng Nam, chúng tôi sẽ hoan hỷ tiếp thu, hoặc gởi sách đến tận nơi kính biếu.
        Nhân đây, xin chân thành cảm ơn Giáo sư Tiến sĩ Đỗ Tất Lợi, Phó tiến sĩ Võ Văn Chi, các tòa soạn báo chí, các phương tiện truyền thông, các tác giả trên mạng internet đã tạo duyên cho chúng tôi trích dẫn một số tài liệu liên quan để thực hiện tập sách nhỏ nầy. Xin thành tâm hồi hướng tất cả công đức có được đến quý vị và gia đình.
Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật,
Nam Mô Thường Hoan Hỷ Bố Thí BồTát
Ma Ha -Tát.

                                                   Phú Ninh – Quảng Nam, cuối tháng 11-2016
                                          NGUYÊN CHƯƠNG

hoa Artichaut


TÊN CÁC CÂY THUỐC ĐƯỢC SẮP XẾP
THEO THỨ TỰ A-B-C
*****

AC-TI-SÔ
(Artichaut, Artichote)
        Mô tả : Cây thảo cao từ 1 đến 1,2 mét. Thân cây có lông mềm và có khía dọc. Lá to, dài, mọc so le, phiến lá ở gốc chia thùy lông chim hai ba lần, các lá ở ngọn gần như nguyên, mặt trên màu xanh lục, mặt dưới có lông trắng, cuông lá to và ngắn. Cụm hoa hình đầu, ở ngọn các nhánh của thân, gồm nhiều hoa hình ống màu lam tím đính trên một đế đường kính 6-15cm được bao bỡi nhiều lá cụt có chóp nhọn. Quả nhẵn có các tơ trắng dài hơn quả. Hạt không có nhân bên trong.

        Phan bố : Cây có châu Âu từ các thế kỷ trước, hợp với xứ lạnh vùng núi cao nên được người Pháp đem đến trồng đầu tiên ở Đà Lạt từ thế kỷ 19, sau được trồng ở các tỉnh vùng cao phía Bắc, nhưng vẫn gọi là Artiso Đà Lạt. Giống trồng được tách từ cây con nẩy chồi từ gốc cây mẹ, hoặc gieo hạt nhưng chậm hơn.

        Bộ phận dùng : Toàn cây (thân, lá, rể, hoa). Thu hái quanh năm. Ra hoa từ tháng 12 đến tháng 2.

        Tính vị, tác dụng : Actiso tính mát. Bông có tính bổ dưỡng khi được nấu chín, tăng lực, kích thích, bổ gan, trợ tim, lợi tiểu, chống độc, làm ăn ngon, cần cho người bệnh tiểu đường. Dùng tươi hay phơi nắng, sấy kho để làm cao, chế thuốc.
        Công dụng : Cây Actiso còn non có thể dùng luộc chín hay nấu canh ăn. Bông là loại rau cao cấp, khi nấu chín rất mềm nên dễ ăn, dùng trị đau gan, dạ dày, tiểu đường. Thân và lá chữa thiểu năng gan, vàng da, mỏ trong máu trong gan, xơ vửa động mạch, u-rê trong máu, tê đầu ngón tay, thống phong, thấp khớp, thủy thủng…

MỘT SỐ BÀI THUỐC CHỮA BỆNH
Artisô đắng, chát, lương
Thông tiểu, thông mật là,đường thuốc hay
Viêm gan, viêm thận là,đây
Lại thêm đau nhức, thuốc nầy thần phương.

        - Hoa Actisô có tác dụng bổ dưỡng, kích thích tiêu hóa, lợi gan mật, trợ tim, lợi tiểu, thường dùng nấu canh. Khi nấu chú ý không dùng nồi gang hoặc nồi nhôm vì hoa sẽ bị đắng, khó ăn.

        - Bộ phận của cây Actisô được dùng làm rau ăn là cụm hoa bao gồm đế mang hoa, các lông tơ, và các lá bắc (có phần gốc mềm mầu trắng bao chung quanh). Trong 100g hoa Actisô, có chứa: 3 – 3,15g protein, 0,1-0,3g lipid, 11-1 g glucid (chủ yếu là inulase) và 82g nước.

        - Cụm hoa Actisô được dùng trong chế độ ăn kiêng của người bệnh đái tháo nhạt vì nó chỉ chứa lượng nhỏ tinh bột, phần Carbon Hydrat gồm phần lớn là Inlin.
        Ngoài ra hoa Actisô còn có chứa các chất khoáng như mangan, phospho, sắt, các vitamin: A , B1, B2, C, cung cấp 50-75 calori. Hoa Actisô khi nấu chín có tác dụng bổ dưỡng tăng lực, kích thích tiêu hóa làm ngon miệng, lợi gan mật, trợ tim, lợi tiểu, chống độc, tăng tiết sữa cho sản phụ (khi hầm với giò heo).

        - Trong Đông y, hoa Actisô dùng trong các trường hợp đau gan, đau dạ dày, ăn uống không tiêu, sản phụ ít sữa, tiểu đường, thống phong, thấp khớp, suy nhược cơ thể…

        - Lá Actisô vị đắng, có tác dụng lợi tiểu và được dùng trong điều trị bệnh phù và thấp khớp.
        - Lá tươi hoặc khô sắc hoặc nấu thành cao chữa bệnh về gan (gan viêm mạn, da vàng), thận viêm cấp và mạn, sưng khớp xương, còn có tác dụng nhuận trường và lọc máu nhẹ đối với trẻ em.

        - Thân và rễ Actisô thái mỏng, phơi khô, công dụng như lá.

        - Actisô được coi là “thần dược” đối với bệnh gan vì nó làm sạch các độc tố trong gan, bởi gan làm chức năng lọc thải chất độc nên dễ bị nhiễm độc gan. Làn da cũng phụ thuộc vào chức năng gan khoẻ hay yếu, tiêu hoá tốt hay không.

        - Actisô cải thiện làn da rất nhiều. Nếu uống quen trà Actisô sẽ thấy vị của nó khá đậm đà dễ chịu và cũng khá ngon. Actisô làm cho da mịn màng và trở nên tươi sáng hơn do nó có tác dụng làm mát gan, giải nhiệt, thải độc tố, giúp da ít bị mụn và khô ráp.
        Nếu không thích uống trà thì có thế dùng nó như một loại nước tắm chăm sóc da, có thể dùng toàn bộ lá tươi hoặc mua loại trà đóng sẵn trong túi nhưng nếu dùng được lá tươi là tốt nhất.
        Có thể khi dùng lần đầu sẽ có phản ứng chưa quen với Actisô như đau bụng, da có thể hơi có biểu hiện khác nhưng sau vài ngày triệu chứng đó sẽ biến mất. Actisô là một thảo dược được nhiều người biết đến công dụng của nó nên ngày càng có nhiều người sử dụng. Tuy nhiên không nên lạm dụng Actisô quá nhiều nếu không có bệnh sẽ có hại cho gan, vì nó buộc gan phải làm việc trên mức bình thường.

Cây Actisô


GÒN
        Mô tả : Còn gọi là cây Bông gòn, thuộc họ Gạo. Cây lớn có thân tròn thẳng, cao 20-30m. Cành nằm ngang. Thân cây lúc còn non có gai hình nón. Các bộ phận còn non đều có màu xanh. Lá kép chân vịt, có 5-8 lá chét hình thuôn, gốc và chốp lá đều nhọn, Hoa hợp thành bông dày ở ngọn cành, màu trắng đục. Tràng 5, có lông nhung ở mặt ngoài. Nhị 5, chỉ nhị chẻ đôi, Bầu hình nón, không lông, vòi nhị nhẵn, đầu nhị hình đĩa có 5 thùy hình răng. Quả khô, hình bắp thịt, mở thành 5 mảnh. Vỏ quả có nhiều lông trắng dài.

        Phân bố : Rải rác khắp nước ta, còn có ở các nước châu Á khác. Ra hoa hoa tháng 2-3, có quả tháng 4-5. Khi chín, quả vỡ ra ruột bông trắng bên trong bay khắp nơi.

        Bộ phận dùng : vỏ cây, nhựa, chồi non, lá, rể, dịch rể, hạt chưa bóc vỏ.

        Tính vị, tác dụng : Vỏ cây có tác dụng lợi tiểu, làm săn da, hạ nhiệt, giảm đau, hồi phụ thần kinh khi rể thần kinh bị viêm. lại có tác dụng gây nôn, kích dục. Lá non lợi sữa, làm dịu cơn đau. Rể lợi tiểu. Quả chưa chín làm săn da, làm thuốc nhầy dịu.

        Công dụng : quả non có thể dùng để xào nấu ăn, hạt làm giá để ăn. Vỏ cây thường được dùng để sắc uông chữa bệnh về cơ quan tiết niệu, thận, phổi, đau tức ngực. Vỏ dùng chữa chứng bất lực, khớp, sốt rét, và làm thuốc giải độc rượu, liều dùng 15-20g/ngày sắc uống, dùng quá liều có thể bị nôn. Nhựa từ thân cây tiết ra dùng chữa đau bụng, lị, đái tháo, liều dùng từ 4-10g. Lá non làm thuốc lợi sữa, lá già nấu nước gội đầu cho tóc mượt. Rể dùng trị bọ cạp cắn, sắc uống chữa sốt rét, ỉa chảy, lị mãn tính, xơ gan cổ trường và phù toàn thân. Nhựa rể dùng chữa bệnh tiểu đường.
Gòn ngọt, mà tính mát thay
Nhuận trường, lợi tiểu, thêm rày lậu băng
Kiết lị, ỉa chảy lăng xăng
Lại thêm trật đả, bó băng lành liền.

Quả Gòn


HẠ KHÔ THẢO
        Mô tả : Cây thảo sống nhiều năm, cao 20 - 40cm, có thể tới 70cm, thân vuông, màu tím đỏ, có lông. Lá mọc đối, hình trứng hay hình ngọn giáo, dài 1,5 - 5cm, rộng 1 – 2,5cm, mép nguyên hoặc hơi khía răng.
        Cụm hoa bông nhiều xim co ở đầu cành, dài 2 - 6cm, lá bắc có màu tím đỏ ở mép. Hoa nhỏ, màu lam đậm hay tím nhạt, có cuống ngắn. Quả bế nhỏ, cứng, có 4 ô.
        Cây mọc nơi sáng và ẩm, thường tập trung thành đám nhỏ. Có thể nhân giống bằng hạt. Sau khi trồng từ 75 – 90 ngày cây ra hoa. Mùa hoa tháng 4 – 5, có quả tháng 7 – 10.

        Phân bố : Ở nước ta thường có ở các vùng núi cao ẩm mát như Sapa, Tam Đảo, Mẫu Sơn, Lai Châu, Hà Giang, Kontum...

        Tính vị, tác dụng : Hạ khô thảo có vị đắng, cay, tính hàn. Tác dụng lợi tiểu, mát gan, sát trùng, tiêu độc, tiêu sưng, hạ huyết áp, mụt nhọt, lở ngứa, bướu cổ, sưng vú, viêm tử cung, âm hộ,…

        Công dụng :
Hạ khô thảo cay, đắng, hàn
Nhuyển kiên, tán kết, bình can, nhiệt trừ
Can dương hỏa bốc đau đầu
Tán ứ, tiêu độc, nhiệm mầu thuốc hay.

MÔT SỐ BÀI THUỐC CHỮA BỆNH
        * Trị tràng nhạc mã đao, không hỏi đã vỡ hay chưa vỡ, hoặc lâu ngày thành rò : Hạ khô thảo 6 lượng, nước 2 chén, sắc còn 7 phân, bỏ bã uống xa bửa ăn. Hư nặng nên sắc đặc cao uống, đồng thời thoa vào chổ bệnh, uống nhiều ích tốt. (Nhiếp sinh chúng diệu phương – Hạ khô thảo thang).

        * Trị nhũ ung (ung nhọt vú) mới phát : Hạ khô thảo, Bồ công anh đều lượng bằng nhau, sắc uống hoặc làm hòan uống cũng được. (Bản thảo hối ngôn).

        * Trị Can hư tròng mắt đau, nước mắt không ngừng, gân mạch đau, và mắt sợ ánh sáng, sợ ban ngày : Hạ khô thảo nửa lượng, Hương phụ tử 1 lượng, tất cả nghiền bột. mỗi lần uống 1 chỉ, trà tháng chạp điều uống, bất cứ lúc nào. (Giản yếu tế chúng phương – Bổ Can tán)

        * Trị xích bạch đới hạ : Hoa Hạ khô thảo, hái lúc nở, phơi âm can, tán bột. Mỗi lần uống 2 chỉ, uống với nước cơm trước bửa ăn. (Cương mục).

        * Trị sản hậu huyết vựng, tâm khí muốn tuyệt : Hạ khô thảo giã vắt nước, uống 1 chén. (Cương mục)

        * Trị huyết băng không ngừng : Hạ khô thảo tán bột, mỗi lần uống thìa 1 tấc vuông, nước cơm điều uống. (Thánh huệ phương)

        * Trị miệng méo mắt lệch : Hạ khô thảo 1 chỉ, Đởm nam tinh 5 phân, Phòng phong 1chỉ, Điếu câu đằng 1 chỉ. Sắc uống, hớp chút rượu trước khi ngủ uống. (Điền Nam bản thảo).

        * Trị choáng đầu hoa mắt : Hạ khô thảo tươi 2 lượng, đường phèn 5 chỉ. Đun cách thủy nước sôi quấy, uống sau bửa ăn. (Mân đông bản thảo).

        * Trị dương giản phong, cao huyết áp : Hạ khô thảo tươi 3 lượng, mật ong mùa đông 1 lượng. Đun cách thủy nước sôi quấy uống.
        * Phòng ngừa bệnh sởi : Hạ khô thảo từ 5 chỉ đến 2 lượng. Sắc nước uống, 1 ngày 1 thang, uống liên tiếp 3 ngày.

         * Trị trẻ con khuẩn lỵ:
2 tuổi trở xuống : Hạ khô thảo 1 lượng, Bán chi liên 5 chỉ.
2 đến 6 tuổi : Hạ khô thảo, Bán chi liên đều 1 lượng.
– 6 đến 12 tuổi : Hạ khô thảo, Bán chi liên đều 1 lượng rưỡi.
        Sắc nước uống.

        * Trị viêm amidan cấp tính, cổ họng đau nhức : Tòan thảo Hạ khô thảo tươi 2 ~ 3 lượng. Sắc nước uống. (Thảo y thảo dược giản tiện nghiệm phương hối biên).

        * Trị vết thương do kim khí, tổn thương do đánh đập : Hạ khô thảo giã nát, đắp lên.

        * Trị vết thương do dao, tổn thương do đánh đập : Lấy Hạ khô thảo bỏ vào trong miệng nhai nát, sau đó đắp vào chổ bị thương.

        * Hắc lào vết trắng : dùng Hạ khô thảo sắc thành nước đặc, mỗi ngày rửa chổ bệnh.

        * Trị viêm gan B : Dùng Hạ khô thảo, Bạch hoa xà thiệt thảo, Bạch mao căn, Cam thảo, Bản lam căn, Sơn đậu căn, sắc nước uống, điều trị 50 ca viêm gan B mạn tính, trị khỏi cận kỳ 33 ca, chuyển biến tốt 12 ca. (Tạp chí kết hợp Trung Tây y năm 1986)

        * Chân tay bị nứt nẻ do trời rét : Dùng Hạ khô thảo, Bạch cập, tất cả nghiền nhỏ, mỡ heo điều cao đắp vào chổ bệnh, trị 36 ca khỏi 34 ca. (Trung thảo dược năm 1995)

        * Tay tróc lột da : Dùng Hạ khô thảo 100g, sắc nứơc 2 lần, ngâm rửa 2 tay, điều trị hơn 100 ca đều khỏi.

        * Bệnh cao huyết áp : Hạ khô thảo 15g, Xa tiền tử 15g, Đại kế 10g. Sắc nước uống, mỗi ngày 1 thang cho đến khi huyết áp bình thường.

        * Viêm bàng quang mạn tính : Hạ khô thảo 100g. Sắc nước bỏ bã uống liên tục thay trà hằng ngày.

        * Bướu tuyến giáp trạng cục bộ : Hạ khô thảo 30g, Sơn tra 20g, Trân châu mẫu 20g. Sắc nước uống mỗi ngày 1 thang đến khi hết bệnh.

        * Đau đầu không dứt :  Hạ khô thảo, Cúc hoa lượng bằng nhau. Bỏ vào làm ruột gối để gối đầu.

        * Chữa tràng nhạc mã đao : Hạ khô thảo 200g, đun nước đặc uống, uống trước khi ăn cơm 2 giờ.
        Cũng bệnh trên có thể dùng hạ khô thảo, hương phụ, bối mẫu, viễn chí đun lấy nước đặc uống rất hay, không nên coi thường.

           * Chữa xích bạch đới : Hạ khô thảo tán nhỏ, mỗi lần uống 8g với nước cơm.

        * Thông tiểu tiện : Hạ khô thảo 8g, Hương phụ tử 2g, Cam thảo 1g, nước 600ml, sắc còn 200ml chia làm 3 lần uống trong ngày.

Hạ khô thảo


KIM NGÂN
        Mô tả : Còn gọi là dây Nhẫn đông. Cây leo bằng thân quấn dài tới 10m. Cành non có lông mịn, thân già xoắn. Lá nguyên, mọc đối, phiến lá hình trứng, dài 4-7cm, rộng 2-4cm, cả hai mặt lá đều có lông mịn. Hoa mọc từng đôi một ử các nách lá gần ngọn. Khi mới nử cánh hoa màu trắng, sau chuyển sang vàng nhạt, mùi thơm nhẹ, 5 cánh hoa dính liền nhau thành ống ở phía dưới, miệng ống có 2 môi, 5 nhị thò ra ngoài cánh hoa. Quả hình trứng, dài chừng 5mm, màu đen.

        Phân bố : Cây mọc hoang ở bìa rừng và trên các đồi cây bụi, ưa ẩm và sáng. Thường leo lên các cây bụi, cây gỗ nhỏ ven rừng đá vôi, rừng thứ sinh, nơi ẩm mát. Có thể trồng bằng cách giâm cành vào tháng 2-3 và tháng 9-10, bằng cách cắt cành khoanh lại chôn xuống đất tưới ẩm. Sau 1 năm cây ra hoa. Mùa hoa tháng 2-5 kéo dài đến tháng 6-7. Có quả tháng 6-8.
        Cây phổ biến ở vùng núi phía Bắc nước ta.. Cũng được trồng ở các nơi khác.

        Bộ phận dùng : Hoa gọi là Kim ngân hoa, và thân dây gọi là Nhẫn đông đằng.

        Tính vị, tác dụng : Kim ngân có vị ngọt, tính mát. Có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát trùng. Cây có tác dụng hạ nhiệt, lợi tiêu hóa và chống lị. Nước sắc Kim ngân có tác dụng kháng khuẩn, không có độc tính.

        Công dụng :
Kim ngân vị ngọt, tính hàn
Thanh nhiệt, giải độc là đàng thuốc hay
Ghẻ ngứa, mẩn lở đêm ngày
Thấp khớp, viêm mủi, uống rày rất hay.

MỘT SỐ BÀI THUỐC CHỮA BỆNH
* Trị thái âm ôn bệnh mới phát, tà khí ở Phổi, sốt mà không sợ lạnh, sáng sớm khát nước : Liên kiều 40g, hoa Kim ngân 40g, Khổ cát cánh 24g, Bạc hà 24g, Trúc diệp 16g, Cam thảo (sống) 20g, Kinh giới tuệ 16g, Đạm đậu xị 20g, Ngưu bàng tử 24g. Tán thành bột. Mỗi lần dùng 24g uống với nước sắc Vi căn tươi.

 * Trị mụn nhọt sắc đỏ biến thành đen : Kim ngân hoa (cả cành và lá) 80g, Hoàng kỳ 160g, Cam thảo 40g. cắt nhỏ, dùng 1 lít rượu gạo tốt ngâm chừng 2-3 giờ, uống mỗi lần 1 ly nhỏ, ngày 2 lần trước bữa ăn chính.  

* Trị phát bối, nhọt độc : Kim ngân hoa 160g, Cam thảo (sao) 40g. Tán bột. Mỗi lần dùng 16g sắc với 1 chén rượu và 1 chén nước còn 1 chén, bỏ bã, uống lúc nóng. Mỗi ngày uống 2 lần trước bữa ăn chính.

* Trị phát bối, ung nhọt mới phát : Kim ngân hoa nửa cân, nước 10 chén. Sắc còn 2 chén. Thêm Đương quy 80g, sắc còn 1 chén, uống.

 * Trị sữa trẻ không bú kết lại gây nên vú sưng đau chịu không nổi : Kim ngân hoa, Đương quy, Hoàng kỳ (nướng với mật ong), Cam thảo đều 10g. Sắc với 4 chén nước còn non 1 chén, thêm ½ ly rượu uống ngày 1 lần.

* Trị vú có khối kết, sưng to, đỏ, chảy nước : Kim ngân hoa, Hoàng kỳ (sống) đều 20g, Đương quy 32g, Cam thảo 4g, Lá Ngô đồng 50 lá. Sắc với 5 chén nước còn 1 chén, thêm ½ chén rượu chia 2 uống 2 lần trong ngày.

* Trị mụn nhọt, lở ngứa : Hoa kim ngân 20g, Cam thảo 12g, sắc uống ngày 2 lần. Bên ngoài dùng Hoa kim ngân tươi trộn với rượu đắp chung quanh chỗ đau.

* Trị ruột dư viêm cấp hoặc phúc mạc viêm : Kim ngân hoa 120g, Mạch môn 40g, Địa du 40g, Hoàng cầm 16g, Cam thảo 12g, Huyền sâm 80g, Ý dĩ nhân 20g, Đương qui 80g, sắc uống.

* Trị họng đau, quai bị : Kim ngân hoa 16g, Liên kiều 12g, Trúc diệp 12g, Ngưu bàng tử 12g, Cát cánh 8g, Kinh giới tuệ 8g, Bạc hà 4g, Cam thảo 4g, Đậu xị 18g, sắc với 5 chén nước còn 1 chén chia 2 uống 2 lần trong ngày.

* Dự phòng não viêm : Kim ngân hoa 20g, Bồ công anh 20g, Hạ khô thảo 20g, sắc với 4 chén nước còn 1 chén, uống 1 lần trong ngày.

* Trị ung nhọt, dị ứng, mẩn ngứa : Hoa kim ngân 10g, Ké đầu ngựa 4g, nước 200ml. Sắc còn 100ml, chia 2 lần uống trong ngày.

* Trị cảm cúm : Kim ngân 4g, Tía tô 3g, Kinh giới 3g, Cam thảo đất 3g, Cúc tần hoặc Sài hồ nam 3g, Mạn kinh 2g, Gừng 3 lát. Sắc uống.

* Trị sởi : Hoa kim ngân 30g, Cỏ ban 30g. Dùng tươi, giã nhỏ, thêm nước sôi để nguội trộn đều, gạn uống 2 lần trong ngày. Có thể phơi khô sắc uống.

Kim ngân hoa



MÃNG CẦU XIÊM
(Mãng cầu gai)
          Mô tả : Cây gỗ nhỏ hay lớn, cao từ 6-8m. Vỏ có nhiều lổ bì nhỏ, màu nâu. Lá mọc so le, nguyên, hình trái soan ngọ giáo, có mũi, nhẵn, thơm, có 7-9 đôi gân bên. Hoa đơn độc ở thân hay nhánh già, 3 lá đài nhỏ màu xanh, 3 cánh hoa màu xanh vàng, hơi nhỏ hơn. Quả mọng kép lớn, hình trứng, dài 25-30cm, màu lục hay vàng nhạt, hpur những mũi nhọn thẳng hay cong, chứa nhiều hạt màu nâu đen.

         Phân bố : Cây được trồng nhiều ở miền Nam Việt Nam và nhiều nước nhiệt đới, thích hợp với khí hậu ẩm, ra hoa quả tháng 4-7 hằng năm.

         Bộ phận dùng : Vỏ, quả, lá và hạt. Thu hái quả chín ăn tươi, lấy hạt để làm thuốc. Quả xanh xắt lác mỏng đem phơi khô tán bột để làm thuốc. Lá dùng tươi.

      Tính vị, tác dụng : Thịt quả mùi thơm dễ chịu ăn để giải nhiệt, bổ và kích dục. Quả xanh phơi khô tán bột làm săn da, chữa kiết lị và sốt rét. Lá tươi làm dịu cơn đau. 

        Công dụng :
Mãn cầu hàn, mát, giải nhiệt, ban
Phát cuồng, phế táo, nóng mê man
Vú sưng, ghẻ, trĩ, thu tiêu mủ
Phiền khát mau trừ, hoạt nhuận gan.

        Thịt quả chín làm sinh tố ăn tẩm bổ và giải khát. Hạt giã nhỏ nấu nước gội đầu trừ chấy, giặt áo quần trừ rận. Lá non nấu uống buổi tối làm dịu thần kinh dễ ngủ. Lá và vỏ cây làm thuốc chữa sốt, ỉa chảy và trục giun.

MỘT SỐ BÀI THUỐC CHỮA BỆNH
        Trong mãng cầu xiêm có chứa nhiều thành phần có lợi cho sức khỏe như: các loại vitamin C, B1, B2,... Không những thế mà còn có hàm lượng canxi, kali, sắt,… giúp bổ sung chất dinh dưỡng cho cơ thể.
        1. Giúp kháng và diệt khuẩn, ngừa viêm nhiễm, điều trị vết thương, sưng tấy: Các thành phần chiết xuất (sắc nước hay cô đặc) từ toàn bộ cây mãng cầu xiêm gồm có : vỏ, cuống, lá và rễ đều được dùng trong các bài thuốc có khả năng giúp ngăn ngừa các mầm mống gây bệnh, giải độc, kháng viêm vô cùng hiệu quả. 
        2. Làm lành vết thương, mau mời sẹo : Khi dùng phần vỏ, rễ hoặc lá để đắp ngoài da hoặc đắp lên vùng có vết thương sẽ giúp mau kéo da non, còn đối với vết thương, sẹo lồi sẽ giúp mau mờ sẹo một cách nhanh chóng.
        3. Thanh nhiệt, tăng sức đề kháng : Dùng trực tiếp thì trái mãng cầu xiêm có tác dụng như một loại nước giải khát, có khả năng tăng sức đề kháng cho cơ thể.       
        4. Đề phòng cao huyết áp, chữa cảm sốt, phát ban : Lấy lá Mãng cầu xiêm nấu nước uống hằng ngày có thể ngăn ngừa cao huyết áp và cảm cúm. Nếu đã bị cao huyết áp hay cảm sốt phát ban thì sắc đậm hơn uống ngày 3 lần sau bữa ăn như một thang thuốc.
        5. Cải thiện tình trạng rối loạn dạ dày : Nấu nước lá Mãng cầu xiêm uống hằng ngày thay nước, dạ dày sẽ bình thường lại.
        6. Hỗ trợ điều trị bệnh chấy rận, ngừa rụng tóc : Mỗi ngày 2 lần sáng và tối trước khi đi ngủ, nấu nước lá Mãng cầu xiêm gội đầu, ít lần sẽ hết chấy, hết rụng tóc. Hoặc nấu nước lá Mãng cầu xiêm ngâm giặt áo quần sẽ hết rận.
         7. Hóa trị làm giảm lượng tiểu cầu trong máu. Mãng cầu xiêm rất giàu chất sắt và có thể cải thiện các tính RBC. Nó cũng chứa riboflavin được chứng minh để giúp chống lại cơn đau đầu. Thiamine tăng mức năng lượng và duy trì sức khỏe của xương vì nó giúp trong việc hấp thụ canxi từ thực phẩm.
        8. Nước ép mãng cầu xiêm : được khuyến khích cho những người bị bệnh gan, viêm niệu đạo.
        9. Trà mãng cầu xiêm : được sử dụng trong điều trị các bệnh túi mật. 
        10. Giảm đau lưng, khớp :  Mãng cầu xiêm cũng được sử dụng để làm giảm đau lưng, đau khớp cũng như các cơn đau do viêm và thấp khớp cực tốt.
        11.Chặn lên cơn sốt rét : 10-15 lá Mãng cầu xiêm, giã nát vắt lấy nước uống 1 lần, ngày uống 4 lần.

        Đặc biệt : mãng cầu xiêm (trái, lá, thân, rể) còn có tác dụng sau :
  • Ngăn ngừa sự hình thành và phát triển của các khối u trong cơ thể,
  • Có tác dụng tẩy giun và làm vệ sinh đường ruột,
  • Chống suy nhược, hạn chế tình trạng mệt mỏi,
  • Hạn chế hiện tượng rối loạn thần kinh.
Mãng cầu xiêm


MẬT GẤU
(cây Lá đắng)
        Mô tả : Cây Mật gấu là loại cây  mọc hoang, thường gặp ở một số tỉnh vùng núi cao và mát như Cao Bằng, Lào Cai (Phan Si Pan), Lai Châu, Bắc Kạn, Lâm Đồng (Lang Biang)…. Là loại cây thân và rễ có màu vàng nhạt, vị đắng như mật gấu, vì vậy cây có tên gọi thường dùng là Mật gấu hay Lá đắng. Cây Mật gấu mọc nhiều ở các vùng núi phía Bắc tuy nhiên ở Miền Nam và miền Trung cũng có cây Mật gấu nhưng cây phát triển không tốt và ít phát triển do khí hậu không thích hợp. Có thể sắc uống hoặc dùng để ngâm rượu xoa bóp trị nhứt mỏi.
        Cây Mật gấu có thể cao 4 – 6m. Lá kép hình lông chim lẻ, mọc so le, dài 20 – 40 cm, mang 11 – 25 lá chét cứng không cuống, hình trái xoan hẹp, dài 6 – 10cm, rộng 2 – 4,5cm, gốc tròn, đầu lá nhọn như gai, mép có răng nhọn; gân chính 3. Lá kèm nhọn như hai gai nhỏ. Các cụm ho ở ngọn thân, mang nhiều hoa màu vàng nhạt; lá đài 9, xếp thành 3 vòng; cánh ho 6, có tuyến ở gốc; nhị 6; bầu hình trụ. Quả thịt, hình trái xoan, đường kính khoảng 1cm, đầu quả có núm nhọn, khi chín màu xanh nâu, chứa 3 – 5 hạt. Mùa hoa: tháng 2 – 4, quả: tháng 5 – 6.

        Tính vị, tác dụng : Trong cây Mật gấu có chưa nhiều alcoloid trong nhóm benzyl isoquinolein, berban amin, axycanthin, palmatin. Một số nước như Ấn Độ, Trung Quốc, Nepan, Châu Á dùng cây này để làm thuốc. Nhưng có vị đắng như mật gấu nên tên cây Mật gấu xuất hiện. Ngoài các bệnh về xương khớp và biến chứng tiểu đường thì cây Mật gấu còn tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu viêm. Dùng để sắc uống hay kết hợp với các loại thuốc khác chữa kết lỵ, viêm ruột, tiêu chảy, viêm gan và vàng da rất hiệu quả. Ngoài ra còn giúp điều hòa cao huyết áp, giải độc gan khi sư dụng nhiều các loại bia rượu và thuốc kháng sinh.

        NHỮNG NGƯỜI NÊN DÙNG CÂY MẬT GẤU :
        - Bệnh nhân men gan cao, xơ gan, viêm gan B, viêm gan C.
        - Người thường xuyên phải tiếp xúc với bia, rượu.
        - Người bệnh sỏi mật.
        - Người bị đau lưng do thoái hóa xương khớp, sưng đau khớp.
        - Người bị bệnh béo phì.
        - Người tiêu hóa kém, bệnh nhân bị viêm đại tràng.
        - Người bị ho lao, khạc ra máu.
        - Người hay bị mất ngủ, đau nhức nửa đêm.
        - Người hay bị đi ngoài, viêm da dị ứng, viêm gan vàng da, mắt đau sưng đỏ. Người bị mụn trứng cá, mụn nhọt.

        Công dụng :
        *Ngâm rượu : Cây thường được dùng phổ biến để ngâm rượu bằng cách rửa sạch rồi chẻ nhỏ phơi khô, trước khi ngâm vào rượu trong bình có thể rửa qua bằng rượu là tốt nhất. Rượu ngâm sau 15 ngày chuyển sang màu vàng, vị đắng nên có thể cho thêm đường phèn cho dễ uống, tùy độ đặc có thể pha thêm rượu. Rượu cây Mât gấu có tác dụng rất tốt để điều trị chứng rối loạn tiêu hoá.

        Nấu nước uống hằng ngày : Cắt lát nhỏ, cho vào nồi đun sôi khoảng 15 phút, uống hàng ngày có tác dụng mát gan, giải độc và giã rượu. Việc sắc cây Mật gấu làm nước uống vừa đơn giản lại có nhiều tác dụng vì vậy thiết nghĩ có thể phổ biến thành thức uống hàng ngày có lợi cho sức khỏe, không tác dụng phụ.

MỘT SỐ BÀI THUỐC CHỮA BỆNH
        1/ Chữa viêm gan cấp tính kèm theo vàng da: Dùng cây mật gấu tươi 40-100g hoặc 20-50g khô, sắc nước uống thay trà trong ngày. Hoặc có thể phối hợp thêm cây Chó đẻ (Diệp hạ châu) 12g, cỏ Gà 15g sắc nước uống.

        2/ Chữa viêm túi mật cấp tính :  Dùng cây Mật gấu tươi 40-100g hoặc 20-50g khô, có thể phối hợp thêm Mộc thông 20g, Chi tử (Dành dành) 10g, Nhân trần 8g sắc nước uống.

        3/ Chữa bệnh lỵ : Dùng cây Mật gấu tươi giã nát, chế thêm nước đun sôi để nguội, chắt lấy nước cốt, uống 2-3 lần trong ngày. Hoặc có thể dùng lá Mật gấu, lá Mua mỗi thứ 20g sắc lấy nước uống.

        4/ Chữa bí đái : Dùng lá Mật gấu, Xa tiền thảo (cây Mã đề) mỗi thứ 15- 20g sắc lấy nước uống.

cây Mật gấu, tức cây Lá đắng tại khu vườn nhỏ của NC
 (có sách gọi là Kim thất tai)


NGẢI CỨU
 (thuốc cứu)
        Mô tả : Cây ngải cứu có tên khoa học là Artemisia Vulgaris, thường có mùi thơm nồng và có vị hơi đắng hoặc rất đắng tùy theo mùa. Cây thảo sống lâu năm, thân mọc đứng, cao 0,5-1,5m, phân nhiều cành, phủ lông tơ trắng và có rảnh dọc. Lá mọc so le, xẻ nhiều kiểu từ xẻ lông chim đến xẻ thùy theo đường gân, mặt trên xanh đậm, mặt dưới trắng xanh, có lông. Cụm hoa chung dạng chùy ở ngọn hay ở nách lá, tạo ra những nhánh bông dài 2-10cm. Các cụm hoa đầu có đường kính 3-4cm, không cuống. Quả bế nhẵn, không có mào lông.

        Phân bố : Cây mọc hoang ở ven đường, bãi đất hoang, nơi ẩm mát, cũng được trồng phổ biến ở khắp nơi nước ta.

        Bộ phận dùng : lá và ngọn, dùng tươi hay phơi khô trong bóng râm để dành. Nếu tán nhỏ rồi rây lấy phần lông trắng và bột gọi là Ngãi nhung dùng làm mồi cứu.

       Công dụng :
Ngải cứu đắng, thơm, tính ôn
Điều hòa kinh nguyệt, lại còn ôn kinh
Băng huyết, lậu huyết linh tinh
Khu phong, trừ thấp đành rành chẳng sai.

MỘT SỐ BÀI THUỐC CHỮA BỆNH
1.   Làm thuốc điều kinh :
      Một tuần trước ngày dự kiến hành kinh, mỗi ngày lấy 6-12g (tối đa 20g) sắc với 1 lít nước còn non nửa lít, hoặc bỏ vào bình rồi nấu nửa lít nước sôi đổ vào như trà, chia làm 3 lần uống trong ngày. Có thể làm bột (5-10g) uống cũng được.
      Nếu kinh nguyệt không đều thì hàng tháng đến ngày bắt đầu kinh và cả những ngày có kinh, lấy Ngải cứu khô 10g, đổ vào 3 chén nước sắc còn hơn nửa chén, thêm vài muỗng mật ong cho dễ uống, chia 2 lần uống trong ngày. Uống vài ngày kinh nguyệt sẽ đều.

2.   Giúp an thai :
      Người mang thai nếu thấy có hiện tượng đau bụng, ra máu, dùng 16g lá Ngải cứu, 16g lá Tía tô, sắc nước 1 với 4 chén nước còn 1 chén, sắc nước 2 với 3 chén nước còn 1 chén. Hòa chung 2 nước chia 3 uống 3 lần trong ngày sau các bữa ăn. Ngải cứu có tác dụng an thai nên không sợ gây sẩy thai. 

3.   Sơ cứu vết thương :
      Lấy 1 nắm lá Ngải cứu tươi rửa sạch, thêm vào 1/3 muỗng cà phê muối sống, giã nát, đắp lên vết thương, máu sẽ cầm nhanh, giảm đau nhức.

4.   Trị mụn, mẩn ngứa :
      Lá Ngải cứu tươi rửa sạch,giã nát, đắp lên mặt để khoảng 20 phút, rồi rửa sạch mặt. Làm nhiều lần trong ngày, vài ngày da sẽ trắng sáng hồng.
      Trẻ em bị rôm sảy thì lấy một nắm lớn lá Ngải cứu giã nát vắt lấy nước hòa vào nước ấm tắm cho trẻ.

5.   Đau thần kinh tọa, nhức xương, đau đầu hoa mắt :
      Lấy 300g Ngải cứu tươi rửa sạch, giã nát, thêm vào 2 muỗng canh mật ong rừng, vắt lấy nước chia 2 uống trưa và chiều. Uống liên tục 1-2 tuần hết bệnh.

6.   Giúp lưu thông máu lên nảo :
       Lấy một nắm lá Ngải cứu rửa sạch, xắc thật nhỏ, trộn đều với 1 quả trứng gà, nêm muối vừa ăn, đổ vào chảo chiên chín  rồi ăn hết 1 lần  trong  ngày.  Ăn 7 ngày máu sẽ lưu thông đều lên nảo.

7.   Suy nhược cơ thể,kém ăn :
      Lấy 250g Ngải cứu, 2 quả Lê, 20g Câu kỷ tử, 10g Đinh quy, 1 con gà Ri (gà Ác) cở 150g, gia vị vừa ăn, hầm với 1/2 lít nước còn 1/4 lít. Chia 5 phần ăn 5 lần hết trong ngày, ăn liên tục 1-2 tuần.

8.   Cảm cúm, ho, đau cổ họng, đau đầu, đau dây thần kinh :
      Lấy 300g lá Ngải cứu, 100g lá Khuynh diệp, 100g lá Bưởi hay Quít, Chanh, rửa sạch, nấu với 2 lít nước cho sôi 20 phút, nhắt xuống xông 15 phút.
      Hoặc lấy 300g lá Ngải cứu, 100g lá Tía tô, 100g lá rau Tần, 50g lá Sả. Nấu với hơn 1 lít nước còn ½ lít, chia ra uống 3 lần hết trong ngày. Uống liên tục trong 1 tuần.

      Ngải cứu được coi là tốt cho sức khỏe nhưng nếu dùng quá nhiều cũng có thể gây ra ngộ độc. Độc tính của ngải cứu khi dùng quá liều sẽ làm cho  thần kinh trung ương bị hưng phấn quá mức, dẫn tới chân tay run giật, sau đó cục bộ hoặc toàn thân co giật. Sau vài lần có thể dẫn đến co cứng, nói nhảm, thậm chí bị tê liệt. Kiểm tra bằng phương pháp điện soi có thể phát hiện các tổn thương ở tế bào não. Sau khi khỏi bệnh, vẫn thường để lại những di chứng như hay quên, ảo giác, viêm thần kinh,…

Cây Ngải cứu (thuốc Cứu)


SẢ
      Mô tả : Cây Sả còn có tên Sả chanh, Mao hương. Cây thảo sống lâu năm, mọc thành bụi, phân nhánh nhiều từ gốc, cao khoảng 1,5m. Thân rể trắng hoặc hơi tím.Lá dài đến 1m, hẹp, mép lá hơi ráp, bẹ trắng, rộng. Cụm hoa gồm nhiều bong nhỏ không cuống.

      Phân bố : Được trồng ở khắp nơi, nhất là ở Do Thái người ta trồng thành đồn điền rộng mênh mông để nấu nước uống và làm thuốc chữa bệnh.

      Bộ phận dùng : Toàn cây.

      Công dụng : Vị ngọt đắng, tính ấm, có mùi thơm. Có tác dụng khư phong, thanh thấp, tán hàn, giải biểu, thông kinh lạc, tiêu thủng, nước sắc đặc thoa ngừa côn trùng cắn.
      Ngoài công dụng làm gia vị, cây Sả còn là vị thuốc chữa rất nhiều bệnh. Tinh dầu Sả dùng khử mùi hôi tanh, xua ruồi muỗi, thoa ngoài chữa cảm cúm và phòng bệnh truyền nhiễm.

MỘT SỐ BÀI THUỐC CHỮA BỆNH
Sả cay, mà tính ấm thay
Phá tán, giải tiểu, lại hay trục tà
Thông tiểu, lợi tiện đều qua
Còn làm gia vị rất là thơm ngon.

1.   Đau dạ dày :   
      Lấy 30-45g cây Sả tươi nấu nước uống hằng ngày.

2.   Hôi miệng, hôi nách :
      Bột củ Sả 10 phần, phèn phi 1 phần, trộn đều, viên thành viên bằng hạt bắp, uống mỗi lần 5 viên, ngày uống 3 lần.

1.   Ngăn ngừa ung thư
      Một số nghiên cứu cho thấy mỗi 100g Sả chứa đến 24,205 microgam beta-carotene - những chất chống  oxy hóa mạnh mẽ có thể giúp ngăn ngừa ung thư.

      4. Giúp tiêu hóa tốt
      Trà từ cây Sả và tinh dầu Sả (có thể uống 3-4 giọt với nước đun sôi để nguội) có tác dụng hỗ trợ tiêu hóa kém, ăn chậm tiêu, đầy bụng, buồn nôn, nôn mửa, hay kích thích trung tiện, đau dạ dày, nóng trong bụng, co thắt ruột, tiêu chảy. 
      Tinh dầu Sả cũng giúp giảm thiểu các vấn đề về khí trong cơ thể vì có khả năng thư giãn các cơ dạ dày. Nó không chỉ giúp loại bỏ khí từ ruột, mà còn ngăn ngừa sự đầy hơi, kích thích tiêu hóa, khử hôi miệng, tiêu đờm. Uống 3-6 giọt tinh dầu Sả chữa đau bụng đầy hơi.

      Chú ý : táo bón mà có sốt không dùng cây Sả, không dùng cho trẻ em dưới 1 tuổi.

      5. Chữa đau bụng, rối loạn tiêu hóa :
      Cây sả tươi 30-50 g đun sôi, hòa thêm đường đủ ngọt, uống nóng 2- 3 lần trong ngày. Dùng chữa chứng bội thực, đau bụng đi tả, nôn ọe, cảm sốt, ngộ độc rượu. Liều dùng mỗi ngày từ 6-12g.

      6. Chữa đau bụng tiêu chảy do lạnh :
      Củ Sả 12g, vỏ quít khô 12g, búp ổi 12g, củ gấu 20g, gừng tươi 3 lát. Đổ 4 chén nước sắc còn 1 chén, uống nóng (trẻ em thì chia uống làm 2-3 lần). Nếu không đỡ thì thêm 15g Tía tô, rất hiệu nghiệm.

      7. Giải độc :  
      Ăn Sả cũng có tác dụng giải độc cơ thể bằng cách tăng cường số lượng và tần xuất đi tiểu (thông tiểu tiện). Điều này giúp cho gan, đường tiêu hóa, tuyến tụy, thận và bàng quang được sạch sẽ và khỏe mạnh bằng cách hỗ trợ cơ thể loại bỏ các chất độc hại không mong muốn và acid uric. 
      Đặc biệt Sả giải độc rượu rất nhanh, có thể dùng 1 bó sả giã nát, thêm nước lọc, gạn lấy 1 chén. Người say rượu nặng uống vào sẽ nhanh chóng tỉnh và đỡ mệt, đỡ nhức đầu.

      8. Có lợi cho hệ thần kinh : 
      Tinh dầu Sả được sử dụng để tăng cường và cải thiện các chức năng của hệ thần kinh, thông kinh lạc. Nó hỗ trợ trong điều trị một số rối loạn của hệ thần kinh như bệnh Alzheimer, bệnh Parkinson, co giật, căng thẳng, chóng mặt, run rẩy chân tay, động kinh.

      9. Giảm huyết áp : 
      Bổ sung các tinh chất có trong sả sẽ có hiệu quả trong việc giảm huyết áp. Nó làm tăng tuần hoàn máu và giúp giảm bớt tất cả các vấn đề của huyết áp. Uống một ly nước sả có thể làm giảm huyết áp.

      10. Giảm đau :
      Tinh chất Sả có thể làm giảm đau tất cả các loại viêm và các cơn đau nhức. Vì vậy, nếu có đau răng, đau cơ, đau khớp hay đau ở các bộ phận khác hãy uống trà sả rất hữu ích.

      11. Làm đẹp da :
      Chất Sả là một nguyên liệu không thể thiếu trong ngành công nghiệp mỹ phẩm vì nó có rất nhiều lợi ích cho da. Tinh dầu sả cải thiện chất lượng da như giảm mụn trứng cá và mụn nhọt. Nó cũng có tác dụng làm săn chắc các cơ và các mô trong cơ thể.
      12. Diệt ruồi, muỗi, côn trùng, mùi hôi : cây Sả còn có tác dụng xua đuổi được ruồi, muỗi, côn trùng, khử hết mùi xú uế. Những nơi bị ô nhiễm môi trường độc hại nên trồng nhiều Sả để khử. Tinh dầu Sả còn được dùng làm thuốc diệt trừ ruồi, muỗi.

Củ cây Sả


THÔNG ĐẤT
      Mô tả : Cây mọc trên đất rồi vươn lên. Thân cao 30-50cm, phân nhánh nhiều. Lá nhỏ mọc sít nhau, hình dải nhọn. Bông rất nhiều tương đối nhỏ, treo thõng ở đầu các cành nhỏ bên, màu nâu nhạt. Túi bào tử gần hình cầu, hai mảnh vỏ không đều nhau.

        Phân bố : Rất rộng, hầu như khắp các vùng đồi núi thấp ở nước ta. Còn có ở khắp các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới Thường gặp ở độ cao tới 1.200m, ít khi hơn. Ưa sáng, có thể chịu được hạn và ẩm. Thường mọc thành đám trong các trảng cây, bụi thưa hay các trảng cỏ thứ sinh ở ven rừng, trên vách đá và đất trống bỏ hoang.

        Bộ phận dùng : Toàn cây. Dùng tươi tốt hơn.

        Tính vị tác dụng : Vị dắng, say, tính ấm. Có tác dụng khu phong thử thấp, thư cân hoạt huyết, trấn khái, thu liễm chỉ huyết và lợi tiểu.

        Công dụng : Thường dùng chữa viêm gan cấp tính, mắt đỏ sưng đau, phong thấp đau nhức và ho mãn tính.
        Mới đây, các nhà khoa học Mỹ đã tìm ra Thông đất có thể chữa được bệnh sốt teo não do vi rút ZIKA, bệnh mất trí nhớ. Trên mạng internet thấy có một số người dùng có kết quả tốt.
        Trước đây cây Thông đất thấy mọc hoang khắp nơi trong cả nước, nhưng sau nầy khi tìm ra là phương thuốc quý hiếm thì chỉ còn thấy ở miền Bắc nướ ta.
        Nước ta có nền y học cổ truyền phát triển rất mạnh mẽ nhờ quá trình tìm hiểu và tích lũy không ngừng của các bậc lương y hiền đức cùng với một lợi thế về dược liệu rất mạnh cả về số lượng và đa dạng về chủng loại.

MỘT SỐ BÀI THUỐC CHỮA BỆNH
        Cây Thông đất thuộc họ Thạch tùng, cây Thạch tùng răng cưa có giá cao hơn so với cây Thông đất, cây Thạch tùng cũng gọi là cây Thông đất, còn cây Thông đất chính xác là cây Thông dùi cũng thuộc loại Thông đất giá rẻ hơn. Thạch tùng răng cưa là loài cây rất hiếm, thuộc danh sách "đỏ" trong Chương trình Nghiên cứu bảo tồn và phát triển nguồn gene quý hiếm về cây thuốc.
        Ngoài ra, loài cây dược liệu này được biết nhiều ở Trung Quốc dưới tên là Qian Ceng Ta,  dùng trong các bài thuốc chữa các bệnh bầm máu, rách cơ, sốt và tâm thần phân lập.
        Ở các nước phương Tây, đặc biệt là Mỹ, Thạch tùng răng cưa được ứng dụng trong nhiều loại thực phẩm chức năng, bán rộng rãi trên thị trường.
        Sau khi các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Trung Quốc được chính thức công bố, các nhà nghiên cứu khoa học tại các nước phương Tây đã kết luận rằng các chất này có tác dụng trong việc chữa trị các bệnh về suy giảm trí nhớ, trong đó có bệnh Alzheimer của người già. Chất alcaloid huperzine trong Thạch tùng răng cưa có khả năng tác động trực tiếp lên não bộ với liều lượng thấp, chỉ tính bằng microgram nhờ khả năng xuyên qua hàng rào mạch máu não.
        Sau khi xâm nhập vào não, huperzine ức chế việc sản sinh ra acétylcholinestérase - enzyme tạo ra sự suy thoái của acétylcholine. Khi enzyme này bị thiếu hụt, hoặc chỉ có với hàm lượng rất thấp thì hàm lượng acétylcholine trong não tăng lên, giúp cho trí nhớ và các chức năng nhận thức được cải thiện.

        * Ðòn ngã tổn thương : Thạch tùng răng cưa 3 – 6g, sắc uống.

        * Ðinh nhọt và viêm mủ ngoài da : cây thông đất, Bán liên liên, Tử hoa địa đinh, Vẩy rồng, đều dùng tươi, với lượng bằng nhau, giã ra, thêm giấm rồi đắp vào phần bị đau.

        * bệnh Alzheimer : Tỷ lệ người già của các nước phát triển trên thế giới chiếm tỷ lệ đáng kể, tỷ lệ người mắc Alzheimer ngày càng tăng và vấn đề được đặt ra là phải có những biện pháp giúp đỡ họ có cuộc sống hài hòa. Năm 2007, nước Pháp coi đây là một trong những chiến lược của ngành y tế  quốc gia.
        Tương tự ở Việt Nam, hiện nay tỷ lệ người lớn tuổi ngày càng gia tăng và các bệnh rối loạn về trí nhớ cũng phát triển, dẫn đến nhu cầu về chữa bệnh cũng tăng lên. Trong khi bệnh Alzheimer cùng với các bệnh mất trí nhớ vẫn chưa có một phương pháp nào có thể điều trị, các chuyên gia y tế cũng chỉ có thể đưa ra những biện pháp để ngăn chặn tình trạng bệnh phát triển nhanh hơn.
         Hiện nay, Thạch tùng răng cưa đã được sử dụng trong nhiều loại thực phẩm chức năng có tác dụng hỗ trợ điều trị  và ngăn ngừa bệnh Alzheimer phát triển, giúp người già duy trì được trí nhớ hiện tại, có một cuộc sống vui vẻ cùng gia đình.
        Cây Thông đất được thu hái hoàn toàn tự nhiên, còn cây Thạch tùng rất quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng, việc thu hái và sử dụng phải đúng cách, không nên thu hái tận diệt, không nên bán ra nước ngoài, đây là dược liệu có tác dụng tốt cho trí não, sử dụng dài ngày có khả năng khôi phục hoàn toàn, dược tính chỉ kém hơn cây Thạch tùng răng cưa mà thôi.
        Dùng cây Thông đất tươi là tốt nhất, sắc 30g với 5 chén nước còn 1,5 chén, chia 2 uống 2 lần trong ngày.

Thông đất

TÍA TÔ
         Mô tả : Cây thảo sống lâu năm, cao từ 3cm đến 1 mét. Thân vuông có rảnh dọc và có lông. Lá mọc đối, có cuông dài, mép lá khía răng cưa, mặt trên xanh lục, mặt dưới màu tía hay xanh tía, có khi cả 2 mặt đều tía, có lông. Hoa trắng hay tím nhạt mọc thành chùm ở nách lá hay đầu cành. Quả hình cầu, màu xanh nhạt.
        Tía tô còn có các tên như É tía, Tử tô, Xích tô (gọi là tử, xích, tía vì cây có màu tím).

        Phân bố : Cây mọc ở khắp nơi nước ta và nhiều nước trên thế giới, đất nào cũng trồng được. Gieo trồng vào tháng 1-2, ra hoa tháng 7-9, có quả tháng 10-12. Thu hái lá vào tháng 3-4, đem về phơi trong bóng râm để giữ hương thơm lâu.

        Bộ phận dùng : lá Tàu gọi là Tử tô diệp, hạt Tàu gọi là Tử tô tử, cành Tàu gọi là Tử tô ngạnh.

        Tính vị tác dụng : Tía tô có tính ấm, vị cay, mùi thơm, vào 3 kinh phế - tâm - tỳ, không độc. Hạt gọi là Tía tô tử, dùng làm trà uống và thuốc hạ khí. Hạt Tía tô có đến 40% là dầu béo. Dầu được ép từ hạt Tía tô cũng có thể làm dầu ăn và làm thuốc chữa bệnh. Cành làm thuốc an thai. Lá có tác dụng giải cảm lạnh, hành khí. Cành có tác dụng an thai, làm giảm đau nhức.

        Công dụng :
Tía tô vị cay, tính ôn
Vào kinh tì, phế, thai an, hóa đờm
Nôn mữa, ngoại cảm phong hàn
Động thai, ngộ độc những hàng cá cua.

        Tía tô là một loại rau gia vị phổ biến đối với người dân Việt Nam. Rau Tía tô có mùi thơm, vị cay đặc trưng, tính ấm.Tía tô là một loại cây dễ trồng và được trồng nhiều ở vùng nông thôn, lá được dùng để ăn sống hoặc nấu chín làm gia vị cho một số món ăn ngon. Đồng thời, Tía tô cũng là một loại thuốc chữa bệnh và phòng bệnh theo y học cổ truyền. 
        Với giá trị dinh dưỡng khá cao, giàu vitamin A, C, giàu hàm lượng Ca, Fe, và P. Từ thân lá, cành đến hạt của Tía tô đều có thể sử dụng làm thuốc.
Tía tô là vị thuốc được Đông y dược xếp vào loại giải biểu (làm cho ra mồ hôi) thuộc nhóm phát tán phong hàn (nhóm do lạnh gây bệnh), bằng cách dùng lá Tía tô cho ra mồ hôi, khỏi sốt.

CÁC BÀI THUỐC CHỮA BỆNH

         1.Chữa mẩn ngứa, làm đẹp da :
         Giã nát lá Tía tô hòa vào nước để tắm, bã lá Tía tô có thể đắp vào vùng da bị ngứa. 

         2.Chữa cảm ho :
         Lá Tía tô tươi 150g, 3 củ Hành tươi thái nhỏ cho vào cháo nóng, ăn lúc còn nóng. 

        3. Chữa cảm lạnh :
        Một nắm lá Tía tô nấu với nước cho bệnh nhân uống.
        Hoặc dùng lá Tía tô với Kinh giới, Hương nhu, lá Sả, lá Tre lượng bằng nhau, nấu với nước để xông cho bệnh nhân, ngày 2 lần. 

        4. Chữa cảm sốt, nhức đầu, nghẹt mũi :
        Hạt Tía tô 120g, vỏ Quít 8g, Cam thảo nam 10g, Gừng tươi 3 lát, sắc với 4 chén nước còn non 1 chén, cho bệnh nhân uống nóng 1 lần, ngày 1 thang. 
        Hoặc dùng bài thuốc sau (kinh nghiệm từ tỉnh An Giang) : củ Cỏ cú sao vàng 100g, lá Tía tô 100g, Hậu phát 50g, lá Thường sơn 50g, Thần thông 100g, Hoắc hương 100g, Gừng khô 50g, lá Bạc hà 100g. Các vị hợp chung tán bột mịn. Mỗi lần uống 1-2 muỗng cà phê, ngày 2-3 lần.

        5. Chữa đau bụng, đầy chướng :
        Giã nát lá Tía tô vắt lấy non 1 chén nước, hòa vào một chút muối sống, cho bệnh nhân uống một lần, đi tiểu bụng sẽ xẹp. 

        6. Chữa các chứng chảy máu do ho, nôn, tiêu chảy :
        Lấy nhiều lá Tía tô cho vào nồi đun gạn bỏ bã, cô đặc thành cao. Lấy một ít đậu đỏ rang vàng, tán nhỏ trộn với cao Tía tô rồi viên thành từng viên nhỏ bằng hạt bắp, mỗi lần cho bệnh nhân uống 20 viên, ngày 2 lần. Thuốc này sẽ hạn chế được phần nào sự chảy máu.

        7. Chữa mụn cơm trên mặt :
        Lấy 1 ít lá Tía tô non rửa sạch, giã nát rồi chà lên mặt bị mụn vài lần trong ngày, ít ngày sau mụn cơm sẽ tiêu hết. Khi các mụn cơm chính bay, mụn cơm nhỏ cũng sẽ tự mất đi.

Tía tô



VỐI
      Mô tả : Cây gỗ có kích thước trung bình. Lá bầu dục hay xoan ngược, thót nhọn ở gốc, có mũi ngắn ở đầu, nhạt màu, và hơi có chấm nâu trên cả hai mặt, dài 8-9cm, rộng 4-8cm. Hoa gần như không cuống, thành cum hoa hình tháp trải ra ở nách những lá đã rụng. Quả hình cầu hay hình trứng, đường kính 7-12mm, nhám, nhớt.

      Phân bố : Cây Vối mọc hoang và được trồng khắp nơi để lấy lá nấu nước uống như lá chè. Ra hoa vào tháng 6 tháng 7.

      Bộ phận dùng : Lá, vỏ thân, nụ hoa. Thông thường dùng tươi, nhưng cũng có thể phơi khô để dùng dần.

      Công dụng : Ngoài việc dùng lá để nấu nước uống giải nhiệt  như lá chè, cây Vối còn phối hợp với các vị thuốc khác để chữa một số bệnh.

MỘT SỐ BÀI THUỐC CHỮA BỆNH

1.   Hỗ trợ điều trị gút (gout) :
      Lá vối được coi là cứu tinh với những người bị bệnh gút (gout) – “bệnh của nhà giàu”. Lá và nụ Vối có công dụng giúp tiêu hóa thức ăn, nhất là thức ăn có nhiều dầu mỡ, giảm béo, lợi tiểu tiêu độc. Bệnh nhân gout là do ăn uống nhiều chất béo ngọt, ứ đọng nhiều chất uric. Mặt khác do hệ thống tiêu hóa và thận bài tiết đào thải không tốt dẫn đến uric ứ đọng ở các khớp gây nên tình trạng sưng, nóng, đỏ, đau nhức khớp.
      Do vậy, nếu dùng thường xuyên lá và nụ Vối có tác dụng hỗ trợ tiêu tích, làm tan các chất uric đào thải ra ngoài nên góp phần trong phòng ngừa, hỗ trợ điều trị bệnh gout.

2.   Nụ vối hỗ trợ trị tiểu đường :
      Kết quả nghiên cứu thực nghiệm và lâm sàng đã chứng minh các hợp chất flavonoid trong chè nụ vối rất hiệu quả trong việc hỗ trợ phòng và điều trị bệnh tiểu đường.
      Người bệnh tiểu đường nếu thường xuyên uống chè nụ Vối sẽ giúp ổn định đường huyết, giảm mỡ máu, chống ôxy hóa tế bào, bảo vệ tổn thương tế bào beta tuyến tụy, phòng ngừa đục thủy tinh thể ở người bệnh tiểu đường và giúp tăng chuyển hóa cơ bản. Điều đặc biệt là uống nụ Vối không có tác dụng phụ đáng kể nên có thể uống thường xuyên.

3.   Cải thiện hệ tiêu hóa :
      Theo Đông y, nụ và lá Vối có tính hàn mát, vị đắng không có độc, có tác dụng thanh nhiệt giải biểu (mồ hôi), kiện tỳ, tiêu thực, trừ được ăn không tiêu, chữa được ngoại cảm phát sốt, sợ rét đau đầu.
      Chất đắng trong lá và nụ Vối kích thích nhiều dịch vị tiêu hóa. Mặt khác, chất tannin (là những hợp chất tự nhiên thuộc nhóm polyphenol phổ biến trong thực vật) trong lá Vối giúp bảo vệ niêm mạc ruột, chất tinh dầu có tính kháng khuẩn cao nhưng không gây hại cho những vi khuẩn có ích cư trú trong ống tiêu hóa. Vì vậy lá và nụ Vối kiện tỳ giúp ăn ngon, tiêu hóa tốt, chữa bệnh đại tràng mãn, chữa viêm gan. Uống nước lá Vối đậm khi bụng đói không bị cào ruột, buồn nôn như uống nước chè đậm.



Cây Vối


XA KÊ
      Mô tả :  Cây Xa kê còn gọi là cây Bánh mì, thân gỗ cao đến 15 mét, có mủ trắng. Lá dài đến 1m, có khía sâu thành 3-9 thùy, rất nhám ở mặt dưới, lá kèm vàng mau rụng, dài 12-13cm. Bông đực dài 20cm, có 1 nhụy. Quả phức hình cầu màu xanh rồi chuyển hơi vàng, to bằng quả mít, có nạc trắng,không ngọt nhưng nhiều bột.

      Phân bố : Cây Xa kê có nguồn gốc từ Indonesia và New Ghiné, được trồng phổ biến ở miền Nam Việt Nam và nhiều nơi khác.

      Bộ phận dùng : Rể, vỏ, lá. Thịt có thể ăn được, có nhiều bột dùng làm bánh như khoai tây, hay cắt lác chiên luộc ăn rất ngon.

      Công dụng :
Xa kê nướng ăn rát ngon (trái)
Trị thận nhiễm mỡ lại còn rất hay (lá)
Tiểu đường sắc uống đại tài
Bệnh cao huyết áp thuốc nầy lành ngay.

        Các bộ phận như trái, rễ, lá, vỏ và cả nhựa của cây Xa kê đều có nhiều dược tính, nên được y học, dân gian dùng làm các bài thuốc trị bệnh. Theo Đông y, thịt của quả Xa kê có tác dụng bổ tỳ, ích khí. Còn hạt Xa kê thì có tác dụng bổ trung ích khí, lợi trung tiện. Vỏ cây có tác dụng sát trùng. Còn lá Xa kê có tác dụng kháng sinh, tiêu viêm lợi tiểu.
      Lưu ý : người không có bệnh thì không nên tự ý dùng lá Xa kê nấu uống thường xuyên, vì sẽ làm cho gan hoạt động quá mức không tốt.

      MỘT SỐ BÀI THUỐC CHỮA BỆNH
      1. Lá Xa kê được đốt thành than, tán mịn, phối hợp với dầu dừa và nghệ tươi, giã nát, làm thành miến thuốc dán để đắp . Hoặc dùng lá Xa kê và lá đu đủ tươi, lượng bằng nhau, giã với chút vôi ăn trầu cho đến khi có màu vàng, dùng để đắp chữa sưng háng, mụn nhọt, áp xe.

      2. Những người bệnh gút (gout) hay bị sỏi thận có thể lấy lá Xa kê già, còn tươi độ 100g, quả dưa leo 100g, cỏ Xước khô 50g. Cho cả 3 loại vào nồi nấu lấy nước dùng hằng ngày.
      3. Những người bị viêm gan vàng da, có thể dùng lá Xa kê còn tươi chừng 100g, Diệp hạ châu tươi 50g, củ Móp gai tươi 50g, cỏ Mực khô 30g. Tất cả đem nấu chung để lấy nước uống trong ngày thay nước.
      4. Những người bị bệnh tiểu đường dạng 2 có thể dùng lá Xa kê đã già chừng 100 gr, quả đậu bắp tươi 100g, lá ổi non 50g. Tất cả đem nấu chung để lấ nước uống hằng ngày. Có thể uống thường xuyên.
      5. Khi bị đau răng, để chữa cơn đau tạm thời trước khi đến khám ở nha sĩ, có thể lấy rễ cây Xa kê nấu nước đậm ngậm và súc miệng.
      6. Những người bị tăng huyết áp dao động có thể dùng 2-3 lá Xa kê vàng vừa rụng, rau Bồ ngót tươi 50g, lá Chè xanh tươi 20g, tất cả rửa sạch nấu chung lấy nước uống trong ngày. Có thể uống liên tục.


Xa kê


*** HẾT TẬP 2 ***


TÀI LIỆU THAM KHẢO
          - Bộ sách Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của Giáo sư Tiến sĩ Đỗ Tất Lợi,
         - Bộ Tự điển Cây thuốc Việt Nam của Phó tiến sĩ Võ Văn Chi,
        - Dược Liệu Miền Nam, sách của nhà xuất bản Khoa học tỉnh Tây Ninh,
         - Trên mạng internet,
         - Tạp chí Số tay y học,
         - Báo Khoa học & Đời sống,
         - Báo Luật pháp & Gia đình,

Hoa Sâm Bố chính

*****
***
*