Tìm
hiểu
TRƯỜNG
SINH HỌC
NHÂN ĐIỆN
Pháp chữa bệnh của Thiền Tông
NGUYÊN
CHƯƠNG
biên soạn
TỊNH THẤT NGUYÊN CHƯƠNG
tổ 2, thôn Khánh An, xã Tam Dân, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam
Người hiển
khai bộ môn Trường sinh học nhân điện (viết
tắt TSHNĐ) là Thiền sư Tiến sĩ Triết học Dasira Narada. Ngài sinh ngày
24.10.1846 tại Tích-Lan, mất năm 1924. Trước đó Ngài làm bộ trưởng bộ y tế rồi
đi tu 18 năm ở núi Hy-mã-lạp-sơn. Khi đắc pháp và liễu nhập bộ môn nầy Ngài
truyền lại cho các đệ tử cùng tên lần lược là Narada I, Narada II và Narada III.
Năm 1972 Ông Narada II đến Việt Nam dự lễ khánh thành tượng đài Phật Thích Ca nằm
ở thị xã Vũng Tàu và truyền bộ môn nầy cho 5 người Việt, rồi ngài tiếp tục đi truyền
qua các nước khác. Như vậy TSHNĐ được truyền ra ngoài lãnh thổ Tích Lan lần đầu
tiên hình như tại Việt Nam.
Kể từ năm 1989, bộ môn TSHNĐ đã có mặt khắp thế
giới. Sau đó “Viện nghiên cứu năng lực vũ trụ quốc tế” ra đời tại Mỹ. Bộ
môn nầy nhanh chóng lan truyền khắp nơi cho đến nay, ngày càng có đông người
theo học để tự chữa bệnh cho mình và cho người khác. Trong khi trước đó ở Việt Nam đã có “Trung
tâm CEFIN thành phố Hồ Chí Minh” do Tiến sĩ Nguyễn Đình Phư sáng lập, ở
phía Bắc có “Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người” do Thiếu tướng
Nguyễn Chu Phát (?) thành lập. Việc chữa bệnh bằng ứng dụng TSHNĐ diễn ra ở
nhiều địa phương, hàng nghìn người đã áp dụng cách để chữa bệnh này có kết quả
tương đối tốt.
Giáo
sư, Tiến sĩ, Bác sĩ Lê Thế Trung, nhà khoa học đầu ngành ở Việt Nam, từng là
Chủ tịch Hội đồng Khoa học nghiệm thu đề tài "Bước đầu tìm hiểu khả năng làm giảm cơn đau các loại bằng phương
pháp nhân điện" của Bác sĩ Lương Đình Du vào năm 2005. Ông cho biết: "Tôi ủng hộ phương pháp này, dù kết quả
chỉ đạt được tối đa 80 – 90%. Điều quan trọng là việc xác định hiệu quả giảm
đau phải xem xét đến khả năng giảm theo thang đo (bằng máy móc Tây y).
Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn
Ngọc Kha, nguyên Trưởng khoa Phẫu thuật Bệnh viện K (Hà Nội) nhấn mạnh, hiện
chưa có công trình nghiên cứu nào trong nước và thế giới lý giải được rõ ràng
cơ chế chữa bệnh này. Có lẽ phương pháp này đã vượt quá khả năng của khoa học thực
nghiệm hiện tại. Giáo sư Kha cho biết: "Người
Việt Nam chưa có thói quen thư giãn và chưa ý thức được tầm quan trọng của sự
cân bằng hưng phấn – ức chế. Tuyệt đối không nên coi đây là phương pháp duy
nhất vì thực tế nhiều người vì quá tin tưởng vào cách chữa bệnh này (nên gặp
nhiều rủi ro)". Tuy nhiên thực tế cho thấy những người theo học và tập
luyện khoẻ mạnh ra rất nhiều, và có nhiều người đã khỏi những chứng bệnh coi là
mãn tính, thậm chí khỏi bệnh nan y. Tập luyện môn trường sinh học dưỡng sinh
đặc biệt hữu hiệu và có hiệu quả tức thời trong việc giảm đau, hồi phục vết
thương, cầm máu và chống nhiễm trùng. Vì vậy, nên khuyến khích người dân tham
gia tập luyện phương pháp này để bảo vệ và nâng cao sức khoẻ cho mình.
Thực tế các môn dưỡng sinh cổ truyền như Yoga, Thiền,… có tác dụng điều trị là do tính chất thư giãn giúp cân bằng cơ thể. Khoa học đã chứng minh được ngay cả bệnh ung thư cũng có hai kết quả tự nhiên : ngưng phát triển và tự khỏi. Có những khối u lành tính bình thường, có những khối u không cần điều trị cũng có khả năng tự mất. U xơ tử cung ở phụ nữ là bệnh bị ảnh hưởng nhiều bởi hormone và nội tiết tố. Với u lành tính, mức độ nhỏ, người ta có thể chung sống lâu dài với nó, thậm chí ở độ tuổi nhất định như tuổi mãn kinh ở phụ nữ, khối u teo lại và biến mất.
Thực tế các môn dưỡng sinh cổ truyền như Yoga, Thiền,… có tác dụng điều trị là do tính chất thư giãn giúp cân bằng cơ thể. Khoa học đã chứng minh được ngay cả bệnh ung thư cũng có hai kết quả tự nhiên : ngưng phát triển và tự khỏi. Có những khối u lành tính bình thường, có những khối u không cần điều trị cũng có khả năng tự mất. U xơ tử cung ở phụ nữ là bệnh bị ảnh hưởng nhiều bởi hormone và nội tiết tố. Với u lành tính, mức độ nhỏ, người ta có thể chung sống lâu dài với nó, thậm chí ở độ tuổi nhất định như tuổi mãn kinh ở phụ nữ, khối u teo lại và biến mất.
Theo Giáo sư, Viện sĩ Vũ
Tuyên Hoàng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đánh giá:
“Hiện nay, khoa học hiện tại chưa lý giải
và chứng minh được phương pháp chữa bệnh này nên vẫn phải tiếp tục nghiên cứu.
Việc truyền năng lượng là có thực, nhưng không phải lúc nào cũng thực hiện được
và có tác dụng”. Tuy nhiên, theo Giáo sư Hoàng, nếu nhận thấy an toàn thì
vẫn cứ nên áp dụng, chứ không thể cứ đợi chờ khoa học chứng minh, vì rất có
thể, phải đến hàng chục năm, thậm chí hàng trăm năm sau khoa học mới có thể
chứng minh được đúng hay sai.
Có thể nói, cách tự
chữa bệnh bằng phương pháp ứng dụng TSHNĐ cũng như các hiện tượng về khả năng
tiềm ẩn của con người còn bị nhiều người coi là không có căn cứ khoa học. Nhưng
các hiện tượng này đều không dễ bác bỏ vì đó là những tồn tại khách quan, thực
tế nhiều người thấy nó có tác dụng thực sự trong điều trị. Các ý kiến bác bỏ
chưa vững, khẳng định cũng chưa đủ cơ sở, vì chưa có trắc nghiệm khoa học đầy đủ
để chứng minh.
Theo Giáo sư, Viện
sĩ Đào Vọng Đức, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người thì : “Chưa thể giải thích TSHNĐ bằng khoa học
truyền thống. Khai mở luân xa chữa bệnh đến giờ chưa thấy tác hại, ngược lại
giúp cơ thể cân bằng, điều chỉnh bệnh khá tốt. Do đó, không ít người tin rằng
trường sinh học nhân điện có tính vạn năng nếu ta biết cách khai thác. Người
tập luyện ở mức độ thấp thì nâng cao sức khỏe, cao hơn là trị bệnh nhẹ rồi nặng
và tiến tới các bệnh nan y. Tất nhiên, cách chữa này nếu theo khoa học truyền
thống thì không lý giải được. Nhưng nếu quả thực phương pháp chữa trị có tác
dụng thì ta cũng phải tiếp cận nó một cách khách quan, với thái độ thực sự cầu
thị, tôn trọng sự thật, khiêm tốn học hỏi để khám phá nhằm mục đích tối thượng
là phục vụ lợi ích cộng đồng”.
Theo nhà nghiên cứu
Nguyễn Phúc Giác Hải, Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người : “Tác động của TSHNĐ là có cơ sở. Đã từ lâu,
dù chưa biết bản chất của TSHNĐ, các nhà y học bằng kinh nghiệm đã sử dụng nó
để chẩn đoán và trị bệnh. Phương pháp ấy được gọi là tâm lý liệu pháp. Trong trường vật lý điện tích cùng dấu đẩy nhau,
điện tích khác dấu hút nhau. Trong trường
năng lượng sinh học thì ngược lại, điện tích cùng dấu hút nhau, khác dấu đẩy
nhau. Tuy trường năng lượng sinh học không phải là trường vật lý, nhưng có
thể tạo ra hiệu ứng vật lý mà 5 giác quan thông thường có thể cảm nhận được.
Các kỹ thuật mới hiện nay đã áp dụng và chụp được trường năng lượng sinh học (nhân
điện) của con người, nhất là các nhà ngoại
cảm (thấy vầng hào quang phát sáng).
Chữa
bệnh theo phương pháp ứng dụng TSHNĐ, hay các nhà ngoại cảm chữa bệnh,… cùng
dựa trên một nguyên tắc chung là dùng trường năng lượng sinh học của mình để
tác động lên trường năng lượng sinh học của người bệnh. Một cảm giác nong nóng
trào vào cơ thể người bệnh qua bàn tay hoặc ý nghĩ của “bác sĩ” trường sinh
học, nhất là các cơ quan bị bệnh, trong khi thân nhiệt người điều trị vẫn bình
thường và không có dấu hiệu tăng thân nhiệt. Các bậc tiên tri nổi tiếng thế
giới như Nosterdemus, Blavatskaya, các nhà khoa học nghiên cứu Đông Tây Y, dự
đoán sự tác động lên con người qua tâm năng (hay
TSHNĐ) là y học của tương lai”.
Thực
tế phương pháp tự chữa bệnh bằng ứng dụng TSHNĐ không dùng thuốc trong thời
gian qua đã đạt được một số kết quả nhất định. Một vài hội thảo khoa học đã
được tổ chức với vài trăm lượt các nhà khoa học, những người tập luyện có năng
lực cao tham gia. Tuy nhiên, phải thấy rằng các rối loạn trong cơ thể sinh ra
bệnh, nếu tự điều chỉnh được sự rối loạn sẽ giúp khỏi bệnh (gọi là bản năng sinh tồn). Phương pháp chữa bệnh này chủ yếu là
giúp cơ thể tự điều chỉnh, nên đối với những bệnh thực thể như đau dạ dày, thần
kinh, bại liệt, bệnh âm (do tâm linh),...
thì đều trị khá hiệu quả. Đối với những bệnh ung thư thì vẫn chưa có đủ tài
liệu thực nghiệm để chứng minh.
Người Ấn Độ gọi là luân xa (luân là luân chuyển,
xa là bánh xe), còn người Tây Tạng gọi là điểm xoáy (Chakra), tức
là năng lượng vũ trụ khi vào cơ thể theo hình xoắn ốc dâng cao tại các huyệt
đạo chính. với mục đích chữa bệnh dựa
trên nguyên tắc cơ thể không đơn thuần là một bộ máy hữu cơ mà còn có các hệ
năng lượng chèn vào cơ thể (năng lượng
sinh học – vầng hào quang). Đây là thể nhận thức của con người. Vì vậy, khi
ta tác động vào hệ nhận thức này cơ thể sẽ tự nhận thức và điều chỉnh lại những
rối loạn và khỏi bệnh. Tuy nhiên, chỉ những người tập luyện lâu năm, có năng
lực cao (và có đủ nhân duyên nữa) mới
có khả năng khai mở luân xa, còn hầu hết những người tập luyện dưỡng sinh
trường sinh học cũng chỉ là giúp cơ thể tự điều chỉnh, tự chữa trị bệnh cho
mình giống như mục đích tập dưỡng sinh mà thôi.
Mặc dù
có khả năng giúp cho người hết bệnh nhưng không nên đi tìm kiếm người để giúp.
Bởi vì chỉ có nhân duyên mới gặp và nhất là ngành nhân điện chưa được công nhận
cho nên có thể bị cho là hành nghề trái phép hoặc bị đổ thừa nếu bệnh không
thuyên giảm mà đôi khi còn nặng thêm. Trên thực tế có nhiều chuyện đã xảy ra,
có khi bác sỹ bị hội đồng kỷ luật y khoa khiển trách khi ra khỏi phạm vi hoạt
động y khoa cho phép. Trừ khi nào ở trong chùa hoặc nhà thờ thì không sao. Hơn
nữa, đây là bộ môn xuất phát từ Thiền tông của Phật giáo nên không thể ra ngoài
hai chữ “nhân duyên” Phật dạy, và tuyệt đối không dùng nó như phương tiện để
trục lợi.
Chữa
bệnh bằng ứng dụng TSHNĐ thực chất dựa trên việc khai mở các luân xa chính, các
luân xa này là các huyệt đạo lớn trong cơ thể nằm trong số hơn 1500 huyệt đạo
nhỏ khác. Đông y chữa bệnh bằng cách đưa khí vào hay ra qua các huyệt cơ bản đó
- châm cứu (gọi là điều khí : hư thì bổ,
thực thì tả, tức là thiếu thì thêm, thừa thì bớt cho cân bằng theo thuyết cân
bằng âm dương). Hiệu quả ứng dụng TSHNĐ để chữa bệnh còn có tác dụng không
nhỏ trong thực tiễn cuộc sống và có thể chữa bệnh từ xa,... làm người bệnh bớt
đau, giảm mệt mỏi, ngủ tốt hơn…
Cơ
thể con người có hàng tỉ tế bào, mỗi tế bào như một viên pin sinh học có một
điện trường nhất định phát sinh ra từ trường, nhiều tế bào cùng nhóm phát ra
một vùng từ trường gọi là trường sinh học. Mỗi bộ phận trong cơ thể sẽ có một
năng lượng sinh học ứng với một trường sinh học riêng biệt. 7 luân xa ứng với 7
trường sinh học cực mạnh ở các vùng khác nhau của cơ thể thứ tự từ dưới lên :
luân xa 1 đến luân xa 7. Do từ trường có thể phát tán ra ngoài nên những người
có khả năng ứng dụng trường sinh học tốt, các nhà ngoại cảm có thể cảm nhận (nhìn thấy bằng tâm) “vòng hào quang”
của các từ trường sinh học. Cơ chế này giúp họ nhìn được từ trường sinh học của
người đối diện, có thể đoán bệnh và trị bệnh cho người đối diện. Tất nhiên, về
lý thuyết là vậy nhưng thực tế không phải ai cũng làm được.
Khai mở luân xa là khai mở các tuyến nội tiết để chữa bệnh, 7 tuyến nội tiết này tương ứng với 7 luân xa, từ thấp lên cao có 7 tuyến nội tiết theo Đông y gọi : tuyến sinh dục, tuyến tụy, tuyến thượng thận, tuyến ức, tuyến giáp, tuyến tùng, tuyến yên. Chính 7 tuyến nội tiết chi phối hầu như toàn bộ các chức năng tâm sinh lý của cơ thể. Việc điều khiển được các tuyến này sẽ điều khiển được mọi hoạt động sống, sinh lý diễn ra trong cơ thể, do đó có thể tự chủ bản thân, tự chữa bệnh được. Khai mở luân xa còn là khai thông hệ thống thần kinh trong cơ thể, từ nảo dọc xuống tủy sống đến tủy cùng (xương cụt), bao gồm hệ thần kinh chi phối hoạt động cấp cao như tư duy, suy nghĩ, hệ thần kinh vận động, hệ thần kinh thực vật… Khi tập luyện đạt được hiệu quả cao, cơ thể tự điều chỉnh hệ thần kinh thực vật, chỉ huy thần kinh cao cấp của mình làm theo ý mình. Theo phương Đông, luân xa thực chất là các vùng huyệt đạo trên cơ thể có kinh khí (năng lượng sinh học) ra vào lớn nhất, trong số hàng nghìn huyệt trên cơ thể. Khi luân xa được khai mở là khai thông được các huyệt đạo này, làm cho khí (năng lượng sinh học) ra vào để điều chỉnh cân bằng âm dương, ngũ hành, khí huyết trong kinh lạc, do vậy có tác dụng chữa bệnh.
Khai mở luân xa là khai mở các tuyến nội tiết để chữa bệnh, 7 tuyến nội tiết này tương ứng với 7 luân xa, từ thấp lên cao có 7 tuyến nội tiết theo Đông y gọi : tuyến sinh dục, tuyến tụy, tuyến thượng thận, tuyến ức, tuyến giáp, tuyến tùng, tuyến yên. Chính 7 tuyến nội tiết chi phối hầu như toàn bộ các chức năng tâm sinh lý của cơ thể. Việc điều khiển được các tuyến này sẽ điều khiển được mọi hoạt động sống, sinh lý diễn ra trong cơ thể, do đó có thể tự chủ bản thân, tự chữa bệnh được. Khai mở luân xa còn là khai thông hệ thống thần kinh trong cơ thể, từ nảo dọc xuống tủy sống đến tủy cùng (xương cụt), bao gồm hệ thần kinh chi phối hoạt động cấp cao như tư duy, suy nghĩ, hệ thần kinh vận động, hệ thần kinh thực vật… Khi tập luyện đạt được hiệu quả cao, cơ thể tự điều chỉnh hệ thần kinh thực vật, chỉ huy thần kinh cao cấp của mình làm theo ý mình. Theo phương Đông, luân xa thực chất là các vùng huyệt đạo trên cơ thể có kinh khí (năng lượng sinh học) ra vào lớn nhất, trong số hàng nghìn huyệt trên cơ thể. Khi luân xa được khai mở là khai thông được các huyệt đạo này, làm cho khí (năng lượng sinh học) ra vào để điều chỉnh cân bằng âm dương, ngũ hành, khí huyết trong kinh lạc, do vậy có tác dụng chữa bệnh.
Người
có khả năng nhân điện cao có thể hiểu là kết quả của việc tập luyện khí công,
tập yoga, tập dưỡng sinh, thiền định,... Những người khổ luyện bài bản, lâu dài
mới có khả năng này, điển hình là các cao tăng, thiền sư. Tuy nhiên, cũng có
một số người tình cờ hay bẩm sinh cũng có khả năng này như các nhà ngoại cảm (bẩm sinh hay sau khi bị một sự cố nguy hiểm
đe dọa đến tính mạng tác động đột ngột). Người có khả năng này nếu tập
luyện lâu ngày, có năng lực cao (và có đủ
nhân duyên nữa) thì có thể có được khả năng khai mở được ít hay nhiều trong
số 7 luân xa. Ngoài ra, còn có phương pháp nhờ người khác học cao hơn mở luân
xa dùm cho mình gọi là mở luân xa chủ động. Nhưng cũng chỉ được mở 6 luân xa từ
2 đến 6, còn luân xa 1 tuyệt đối không được mở, để nó tự mở khi tập luyện đạt
được kết quả cao hơn.
Chỉ
cần khai thông 7 luân xa nầy là đủ, vì từ nó lan tỏa ra hàng nghìn luân xa phụ (trên 1.500 huyệt đạo) khác. Bảy luân xa
từ dưới lên dọc theo cột sống, đó là :
*Luân xa 1 (Muladhara) : Nằm ở vùng giữa bộ phận sinh
dục và hậu môn. Có sách nói : nam nằm ở giữa dương vật và hòn dái, nữ nằm ở phần
lõm trên giữa đại âm thần sát gốc mồng đóc. Luân xa nầy tuyệt đối không được
nhờ người khác khai mở, để nó tự mở khi có nhân duyên. Nhờ tính chất năng động về tâm linh, luân xa 1
giúp cho con người thấy được quá khứ (kiếp
trước) và vị lai (kiếp sau) của
mình. Ký hiệu của LX1 là hoa sen 4 cánh màu đỏ.
*Luân xa 2 (Swadhisthana) : Huyệt Trường
cường của Đông y, nằm ngay đầu xương cùng cột sống (xương cụt), liên quan đến bài tiết và sinh lý, tức buồng trứng của
nữ và tinh hoàn của nam. Đưa năng lượng vào LX2 giúp phục hồi chức năng bài tiết
và sinh dục, sinh lý con người.
Trong chiêm tinh học, luân xa 2 tương ứng
với mặt trăng, nó thu nhận năng lượng của mặt trời và trung tâm trái đất rồi chế
tác bổ trợ cho sức khỏe của con người, nên luân xa nầy rất mạnh. Người có LX2 mạnh
sẽ trải tình thương yêu bao la với mọi người chung quanh, và mạnh về sinh lý.
Ký hiệu của LX2 là hoa sen 6 cánh màu cam.
*Luân
xa 3 (Manipura) : Huyệt Mệnh
môn của Đông y, nằm ở vùng chớn thủy, liên quan đến thận, gan, dạ dày. Đưa năng
lượng vào LX3 có tác dụng điều hòa cơ thể, tăng khả năng chuyển hóa, điều chỉnh
chức năng của thận, gan, dạ dày, làm cho cơ thể khỏe khoắn và ăn ngủ ngon…
Trong chiêm tinh học, LX3 tương ứng với
sao Hỏa nên nó cho chúng ta thấy nó cộng hưởng với sự cảm xúc. Ký hiệu của LX3
là hoa sen 10 cánh màu vàng.
*Luân xa 4 (Anahata) : Huyệt Tâm du của Đông y. Vị trí ngay khoảng giữa xương ức và yết hầu ngang tim. Đưa năng lượng vào LX4 phục hồi chức năng hệ tuần hoàn như tim, mạch máu… LX4 được khai mở sẽ giúp con người thanh thản, bình tĩnh, hòa đồng với người chung quanh…
Trong Chiêm tinh học, LX4 tương ứng với
sao Thủy, được kết hợp với không khí, thuộc về trực giác và tâm linh. Ký hiệu của
LX4 là hoa sen 12 cánh màu xanh lá cây.
*Luân
xa 5 (Vishuddha) : Huyệt Đại
chùy của Đông y. Vị trí nằm ngay yết hầu. Đưa năng lượng vào LX5 để phục hồi
các chức năng của hệ hô hấp như mũi, họng, xoang, da. Phối hợp với LX6 hay 7 để
cân bằng thân nhiệt.
Trong Chiêm tinh học, LX5 tương ứng với
sao Thổ, nó đại diện cho thể khí quang của vũ trụ. Người đạt đến trình độ cao
có thể nghe được âm thanh văng vẳng từ xa vọng lại, và có thể thấy được quá khứ,
hiện tại và vị lai của mình và người khác. Ký hiệu của LX5 là hoa sen 16 cánh màu xanh da trời.
*Luân
xa 6 (Ajna) : Huyệt Thiên
mục (Ngạch trung) của Đông y. Vị trí nằm giữa trán, giữa 2 chân mày lên chừng 1cm,
liên quan đến vỏ não, tuyến yên và tuyến tùng. Đưa năng lượng vào LX6 phục hồi
chức năng hệ thần kinh và hoạt động của chân tay.
Trong Chiêm tinh học, LX6 tương ứng với
sao Kim, nó giúp cho con người giữ cân bằng trạng thái tinh thần. Khi LX6 đạt
được trạng thái vô thức nó còn là trung tâm thiên nhãn giúp cho con người nhìn
xa thấy rộng, có thể xóa bỏ được nghiệp chướng lỗi lầm do mình gây ra, và đôi
khi đạt được thần giao cách cảm nếu luyện tập đến mức độ cao cấp. Ký hiệu của
LX6 là hoa sen 2 cánh màu chàm (xanh tím).
*Luân
xa 7 (Sahadrara) : Huyệt Bách
Hội của Đông y. Vị trí nằm ở vùng trủng giữa đỉnh đầu (nằm khoảng giữa đường thẳng nối hai đầu lổ tai). Liên quan đến thần
kinh trung ương, kiểm soát toàn bộ cơ thể chúng ta, kiểm soát tất cả các dây thần
kinh, phối hợp với các luân xa khác phục hồi hầu hết chức năng các cơ quan bộ
phận trong con người. Khi LX7 hoạt động đến bậc cao, nó giúp cho con người khả
năng kích đông tất cả các luân xa khác cũng như mọi quyền lực tinh thần. LX7 là
trạm cuối cùng và cao nhất, là trình độ tâm thức cao nhất, luôn là biểu tượng
quyền năng con người trong thế giới siêu nhiên. Nó giống như mặt trời tỏa ra
hàng nghìn tia sáng lấp lánh ánh vàng. Đây là trung tâm lớn nhất và tỏa sáng
nhiều nhất trong 7 luân xa, gồm 12 cánh hoa sen lớn màu trắng ánh vàng kim và
960 cánh hoa sen màu xanh nhỏ hơn bao bọc chung quanh.
Trong Chiêm tinh học, LX7 tương ứng với
sao Thổ. Đây cũng là trung tâm ý chí của tinh thần, là nơi giúp cho con người
trực tiếp gặp gỡ các linh hồn, và giữ vai trò khá quan trọng trong thần giao
cách cảm. Ký hiệu của LX7 là hoa sen nghìn cánh màu tím hoặc trắng bạc.
Hai luân xa 6 và 7 là 2 LX chủ đạo của
con người, nó nằm trên đầu nên không giống với các LX khác. Chức năng của nó
giúp con người giữ được cân bằng thân tâm, nhất là LX7 là thống soái của các LX
kia.
Sau khi được các bậc thầy khai mở luân
xa rồi, hằng ngày phải thường xuyên ngồi thiền ít nhất 15 phút để duy trì nhân điện và tiếp tục nạp điện
năng từ vũ trụ vào cơ thể để nâng cao công năng. Nếu mới khai mở mà không chịu
ngồi thiền đều đặn mỗi ngày thì sau một tuần luân xa sẽ bị bít
lại, cơ thể sẽ dẫn đến mỏi mệt, dễ sinh bệnh.
Các tư thế tập luyện gồm : ngồi xếp bằng,
ngồi trên ghế dựa, nằm ngửa, đứng thẳng đều được. Phương pháp tập như sau :
*
Chuẩn bị : Ngồi xếp bằng hay bán già, kiết già đều được, miễn
thân thật ngay thẳng. Dưới lót tấm vải dày. Lưng và đầu thẳng góc với mặt đất, hai tay xoa nhẹ vào
nhau rồi để hai bàn tay lật ngữa khum khum trên hai đùi. Mở mắt nhìn thẳng, hít
vào bằng mũi, thở ra bằng miệng từ từ 3 lần, lần thứ tư nhắm mắt lại hít vào thở
ra bằng mũi đều đều và nhẹ nhàng.
Nếu nằm ngửa hay đứng thì tay chân duỗi
thẳng xuôi theo thân mình, hai bàn tay ngón xếp lại lật ngửa lên (nếu nằm) hay đưa lòng bàn tay ra phía
trước (nếu đứng). Ngồi trên ghế dựa
thì hai chân khép lại và co 90 độ, hai bàn tay lật
ngửa khum khum đặt lên xuôi theo trên hai đầu gối, hai cánh tay nép nhẹ sát
hông. Lót tấm vải dày dưới chân.
*
Vào thiền : Nhắm mắt thả lỏng toàn thân, trút bỏ mọi ưu tư,
không suy nghĩ gì hết, thư giản toàn thân từ 10, 15, 30 phút hay nhiều hơn càng tốt.
*
Xả thiền : Mở mắt ra, chắp hai trước ngực, đầu ngón tay hướng lên rồi xoa hai bàn tay vào nhau mấy
cái nhẹ nhàng. Hít bằng mũi thở bằng miệng từ từ 3 lần, mở mắt ra, kết thúc.
*
Cách tự chữa bệnh cho mình : Thiền từ 5 đến 10 phút. Trước khi xả
thiền đặt tay phải lên LX7 và tay trái lên vùng đau khoảng 5 phút. Sau đó xả thiền.
*
Cách chữa bệnh cho người khác : Phải học hoàn thành từ cấp 2 trở
lên mới được chữa bệnh cho người khác. Xoa tay nhẹ mấy cái, hít thở 3 lần bằng
mũi, hít lần 4 rồi nín thở đặt tay phải nhẹ nhàng lên LX7 của người bệnh, lắng
nghe có hiện tượng gì không. Nếu không nghe gì sau đó thở mạnh ra bằng mũi rồi
hít thở bằng mũi bình thường, thầm nghĩ năng lượng đang vào cơ thể người bệnh (Thời
gian 3 đến 5 phút). Tiếp theo đặt tay trái vào luân xa vùng bệnh 3 đến 5 phút. Chữa
bệnh xong thở ra hết hơi bằng miệng rồi nín thở lấy tay trái trước tay phải sau
ra và cân bằng âm dương (Xoa tay hít thở 3 lần).
Trong thời gian trị bệnh, khi di chuyển
tay từ LX này qua LX khác phải nín thở rồi mới được di chuyển, vì nếu không làm
như vậy thì bệnh của bệnh nhân sẽ bị hút sang người trị bệnh. Bệnh nặng có thể
trị 2 lần/ngày cách nhau 8 giờ.
-Trường
hợp bị dính trượt (gặp sự
cố) : Cách xả trượt như sau : Nếu là nam lấy bàn chân trái của mình đè
lên bàn chân phải, tay trái khép kín ngón đè lên tay phải để lên đùi trái, ngồi
thiền gấp đôi thời gian bình thường. Nữ cũng làm như vậy nhưng tay chân phải đè
lên tay chân trái, đặt tay lên đùi phải (theo
thuyết âm dương : nam tả nữ hữu).
Trong quyển “Địa ngục và đầu thai” người viết đã trình bày : nhân điện
chính là linh hồn của sinh vật (tức người,
động vật và thực vật). Vì thế làm tăng trưởng công năng của nhân điện tức
là làm cho linh hồn sung mãn sáng rực rỡ hơn lên. Nói cách khác, người có nhân
điện mạnh sẽ tỏa hào quang, tức linh hồn tinh minh sẽ tỏa hào quang ra ngoài cơ
thể vậy. Khẳng định nầy của NC rất phù hợp với phát biểu của các nhà nghiên cứu
nói trên. Cho nên khoa học công nhận nhân điện có thật và là một sự kiện khoa học
thì linh hồn đương nhiên cũng có thật và là một thực chứng khoa học tâm linh vậy.
Hơn nữa nhân điện là mật pháp của Thiền tông, chính Thiền sư Dasira Narada đã
hiển khai nhân điện ra giúp chúng sanh.
Thiên linh cái ở Việt Nam (ảnh internet)
Những người bị sét đánh, ngẩu nhiên đầy
nhân duyên họ đã được nạp vào cơ thể một khối lượng điện năng vũ trụ khổng lồ,
những bậc cao tăng, những bậc yogi, những nhà nhân điện cao cấp tập luyện trăm năm chưa chắc bằng được. Nếu chưa chết, họ là một bậc thầy về nhân điện, nếu được hướng dẫn họ sẽ chữa bệnh rất giỏi. Nếu đã
chết, khối nhân điện khổng lồ đó tập trung ở trên sọ, tức ở vùng LX6 và 7 là 2
LX có thể thấy biết quá khứ, hiện tại, vị lai của một người và có khả năng thần
giao cách cảm rất cao. Nếu có nhân duyên được hướng dẫn đúng chánh pháp, họ sẽ giúp chữa bệnh rất giỏi. Ở Việt Nam, các ông thầy phù thủy lén lút đào mộ của người
bị sét đánh chết lấy hộp sọ về dùng bùa ngãi ếm luyện thành âm linh của mình để
điều khiển theo ý muốn. Khi người đến xem cần việc gì thì âm linh đó đều nói
trong lổ tai cho ông thầy biết. Nên nếu đến những nơi đó ta thường thấy ông thầy
phù thủy thỉnh thoảng hay nghiên tai tự hỏi “hỉ ?” để âm linh đó nói lại cho
rõ. Âm linh đó gọi là Thiên-linh-cái. Còn ở Campuchia và Thái Lan thì người ta
dùng xác thai nhi để luyện gọi là Kumanthong. Khi bùa ngãi hết hiệu nghiệm, những
âm linh đó quay lại phản chủ và phản luôn cả những người có liên quan đã đến nhờ
vã thầy phù thủy đó. Đây là pháp môn tà đạo nên là Phật tử chân chính chúng ta
không được quan hệ trong bất cứ hoàn cảnh nào.
Qua những tìm hiểu trên đây, ta thấy
Trường sinh học nhân điện là một môn khoa học huyền bí, khoa học thực nghiệm
đang trên đường nghiên cứu để công nhận. Trong khi đó TSHNĐ đã được áp dụng
trên khắp thế giới, đã chữa khỏi nhiều bệnh nặng nhẹ cho con người. Vì thế nếu
có điều kiện (và có nhân duyên nữa)
nên tìm học để phòng bệnh và tự chữa bệnh cho mình. Còn việc làm thầy truyền dạy
thì phải nghiêm chỉnh tuân theo giới điều của Phật giáo : vì chúng sanh phục vụ,
bất vụ lợi, giúp đời với chánh tâm từ bi hỷ xả.
Việc tìm hiểu về Trường sinh học nhân
điện trên đây với mong muốn góp một phần nhỏ bé vào mục đích giúp đời có thêm
phương pháp phòng và tự chữa bệnh, nên chắc chắn còn nhiều thiếu sót, rất mong
quý chư thiện giả hoan hỷ bổ sung. Nguyên Chương xin trân trọng cung thỉnh mỹ
ý.
Phú Ninh – Quảng Nam
Mùa an
cư PL.2560 (2016)
THÍCH
NGUYÊN CHƯƠNG






