Một số
CÂY THUỐC NAM
Thông dụng
(TẬP 4)
NGUYÊN CHƯƠNG
Sưu tầm
PHÁT HÀNH LẦN THỨ 1 (06-2017)
Mùa An cư PL.2561
LƯU HÀNH NỘI BỘ
(sách tặng
không bán)
TỊNH THẤT NGUYÊN CHƯƠNG
Tổ 2, thôn Khánh An, xã Tam Dân, huyện Phú Ninh,
Tỉnh Quảng Nam
Súng
ĐÔI LỜI TÁC
BẠCH
Mấy
năm qua, chúng tôi đã lần lượt phát hành 18 bộ sách nhỏ gởi tặng thập phương, gồm
9 quyển “Những bài thuốc Nam dân gian hiệu nghiệm” từ số 1 đến số 9, bốn
quyển sách đặc biệt : Địa long thần dược cứu mạng, Giấm táo–Mật ong
thần dược chữa bệnh, sống lâu; những
phương thuốc thần chữa bệnh ung thư. Hai bộ sách “Cây Cần sen-thần dược chữa bệnh”,
“Nhà
nhà trồng cây Cần sen để làm thuốc chữa bệnh”, đặc biệt ba bộ sách “Một
số cây thuốc Nam thông dụng” tập 1, 2, 3.
Được sự khuyến khích động
viên của bạn bè thân hữu và quý Phật tử, chúng tôi tiếp tục không ngừng sưu tầm
nghiên cứu các bài thuốc, cây thuốc với những vị thuốc dễ tìm để giúp người bệnh
khắp nơi có điều kiện chữa bệnh dễ dàng, ít tốn kém nhưng hiệu quả cao. Sưu tầm
được bài nào chúng tôi cho phát hành tờ rơi chữa thử nghiệm, điều chỉnh liều lượng
thuốc đến khi có kết quả tốt mới in ra sách.
Nay có nhân duyên, chúng tôi xin giới thiệu
tiếp tập sách nhỏ “MỘT SỐ CÂY THUỐC NAM THÔNG DỤNG” quyển 4. Trong mỗi gia đình nên trồng những cây thuốc nầy, xem như có một
vị thầy thuốc Nam thường trực trong nhà, sẽ tự chữa được những bệnh thường gặp
nhất, không cần phải đi xa. Vì hiện nay ở nước ta thuốc Nam được xem là vị thuốc
hiệu quả nhất được đa số người dân tin dùng, nhất là những người nghèo không đủ
điều kiện đến bệnh viện, hay ở quá xa nhà thương, y bác sĩ. Theo kinh nghiệm,
trồng thuốc Nam trên đất tự nhiên dược tính cao hơn trồng trong chậu kiểng. Thực
phẩm chức năng Tây y bào chế thành viên, thực chất là thuốc Nam chưa được nhà
nước cấp phép (Chữa thử nghiêm ít nhất 3
năm sau mới được gọi là thuốc Tây).
Mong
quý vị đón nhận với sự tin tưởng cao để tiện lợi tham khảo trong việc chữa bệnh
và giúp chúng tôi giới thiệu đến mọi người biết hưởng ứng.
Mọi
ý kiến góp ý, bổ sung, hay có nhu cầu về sách thuốc, xin quí vị vui lòng liên hệ
với chúng tôi qua số điện thoại : 0983.710.463 – 0908.694563 (Nguyên Chương), địa chỉ : TỊNH THẤT NGUYÊN CHƯƠNG, tổ 2, thôn Khánh
An, xã Tam Dân, huyện Phú Ninh, tỉnh, Quảng Nam, chúng tôi sẽ hoan hỷ tiếp
thu, hoặc gởi sách đến tận nơi kính biếu. Hoặc vào Googles : thichnguyenchuong@gmail.com – Bloger : thichnguyenchuong.blogspot.com có các nội dung : SÁCH THUỐC Nguyên Chương, GIÁO LÝ Nguyên
Chương, HÌNH ẢNH SINH HOẠT Nguyên Chương, THƠ VĂN Nguyên Chương để tham khảo.
Nhân đây, xin chân thành cảm
ơn Giáo sư Tiến sĩ Đỗ Tất Lợi, Phó tiến sĩ Võ Văn Chi, Bác sĩ Nguyễn Công Tỷ và
Lương y Huỳnh Văn Thanh, các tòa soạn báo chí, các phương tiện truyền thông,
các tác giả trên mạng internet đã tạo duyên cho chúng tôi trích dẫn một số tài
liệu liên quan để thực hiện tập sách nhỏ nầy. Xin cảm ơn các vị lương y thân hữu
đã trực tiếp góp ý. Xin thành tâm hồi hướng tất cả công đức có được từ quyển
sách nầy đến quý vị và gia quyến.
Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật,
Nam Mô Thường Hoan Hỷ Bố Thí BồTát
Ma Ha –Tát.
THÍCH NGUYÊN CHƯƠNG
Hoa Hắc hương
TÊN CÁC CÂY THUỐC ĐƯỢC
SẮP XẾP
THEO MẪU TỰ A-B-C…
**************
BỒ NGÓT
(Hắc diện
thần, bù ngọt)
Mô tả : Cây nhỏ, có thể
cao đến 1,5m hay hơn, phân nhiều cành. Lá mọc so le, mỗi cành mang 10-12 lá,
phiến hình trứng dài hoặc bầu dục, có mép nguyên, dài tới 6cm, rộng 3cm, cuống
ngắn, với 2 lá kèm nhỏ. Hoa đơn tính, mọc thành xim đơn ở nách lá, hoa cái ở
trên, hoa đực ở dưới. Quả nang, hình cầu dẹp màu trắng, mang đài hoa tồn tại
màu đỏ. Hạt hình hình 3 góc có vân nhỏ.
Phân bổ
: phổ biến nhiều nơi ở nước ta. Thường được trồng
làm rau ăn.
Bộ phận
dùng : Lá và rể. Khi chọn làm thuốc thường dùng cây
sống từ 2 năm trở lên. Lá hái tươi và dùng ngay. Rể thu hái quanh năm, rửa sạch
phơi khô để dành.
Tính vị
- Tác dụng : Lá rau Ngót có vị ngọt, bùi, tính mát, có tác
dụng điều hoà nội tạng, bổ ích cho cơ thể, tăng cường chức năng cho tiêu hoá và
bài tiết. Rể có vị ngọt, tính mát, có tác dụng lợi tiểu, hoạt huyết.
Công dụng
:
Bồ ngót ngọt, chua, tính hàn
Dưỡng âm, nhuận huyết, sinh tân, mát tì
Giải ban, táo khát một khi
Tư can, bổ thận, khác gì thuốc tiên.
MỘT SỐ BÀI THUỐC :
1.Trị viêm phổi, sốt cao, ho, bí tiểu tiện và tiêu độc : dùng
20-40g lá tươi sắc uống, hoặc rể tươi giã vắt lấy nước uống.
2. Chữa sót nhau : Dùng lá tươi giã nát
đắp lên hai gan bàn chân. Đồng thời lấy 40g lá rau Ngót rữa sạch, giã nát, thêm
một ít nước đun sôi để nguội, vắt lấy chừng 100ml nước chia 2 cho uống, cách
nhau 10 phút một lần. Chừng 10-15 phút sau nhau sẽ ra.
3.Thanh
nhiệt : Rau Ngót được dùng để thanh nhiệt, hạ sốt, trị ho do phế nhiệt.
Dùng lá rau Ngót tươi dưới dạng xay sinh tố, hoặc nấu canh rau Ngót ăn.
4. Trị cảm nhiệt gây ho suyễn : Rau Ngót vị mát, có tính thanh nhiệt,
lại chứa chất ephedrin rất tốt cho những người bị cúm gây ho suyễn.
5. Hỗ trợ điều trị đái tháo đường
:
Người bệnh đái tháo đường chỉ được ăn ít cơm để glucoz-huyết không tăng nhiều
sau bữa ăn. Rau ngót có inulin giúp làm chậm quá trình hấp thụ đường (đường trong cơm là đường nhanh). Mặt
khác, khả năng sinh nhiệt của inulin chỉ bằng 1/9 của chất béo.
6. Trị táo bón : Rau ngót bổ âm, sinh tân dịch, nhiều
chất xơ nên ngăn ngừa được táo bón. Phụ nữ sau sinh nên dùng rau ngót để vừa bổ
âm, sinh tân dịch, bù lại âm và tân dịch mất cùng máu khi sinh.
7. Chảy máu cam : Giã rau ngót thêm nước, ít đường để uống, bã gói vào vải đặt
lên mũi, sẽ dứt chảy máu cam.
8. Đổ mồ hôi trộm, táo bón, biếng ăn ở trẻ em : Lấy 30g
rau Ngót, 30g Bầu đất, 1 quả bồ dục lợn (thận
lợn) rồi nấu canh cho trẻ ăn. Đây không chỉ là món canh ngon, bổ dưỡng lại
có tác dụng chữa bệnh, mà nó còn là vị thuốc kích thích ăn uống với những trẻ
chán ăn. Đặc biệt, canh rau ngót nấu với thịt lợn nạc hoặc giò heo… không chỉ tốt
cho trẻ em mà còn rất tốt cho cả người lớn bởi nó là một vị thuốc bổ, giúp tăng
cường sức khoẻ với người mới ốm dậy, người già yếu hoặc phụ nữ sau khi sinh.
9. Chữa tưa lưỡi : Lấy 10g lá tươi, rửa sạch, giã nhỏ
vắt lấy nước, thấm vào gạc mềm, sạch, đánh trên lưỡi, lợi, vòm miệng trẻ em. Đánh nhẹ cho tới khi hết tưa trắng.
10. Đái dầm ở trẻ em : 40g rau Ngót tươi rửa sạch, giã nát, sau
đó cho một ít nước đun sôi để nguội vào rau Ngót đã giã, rồi khuấy đều, để lắng
và gạn lấy nước chiua làm 2 lần để uống cách nhau 10 phút.
11. Trẻ bị sốt nóng thân nhiệt tăng : Dân gian vẫn thường
dùng lá rau Ngót rửa sạch, giã nát, lọc lấy nước cho trẻ uống, bã đắp lên đỉnh
đầu sẽ có công hiệu.
12. Đau mắt đỏ, nhức nhối khó chịu : Lá rau Ngót 50g, rễ cỏ
Xước 30g, lá Dâu 30g, lá Tre 30g, rau Má 30g, lá Chanh 10g. Tất cả đều dùng
tươi, sắc đậm đặc, chắt lấy nước uống nhiều lần trong ngày. Đồng thời lấy 1 nắm
lá rau Ngót rửa sạch, giã nát, đắp lên mắt đỏ ngày 2 lần.
13. Trị nám da : Rau Ngót (sau khi đã
rửa sạch) cho vào máy xay sinh tố để xay lấy nước uống mỗi ngày. Một cách
khác đó là giã nát rau Ngót, sau đó đắp chúng lên vùng da bị nám trong khoảng
20-30 phút và rửa lại với nước lạnh. Cách làm này nếu được áp dụng thường xuyên
sẽ đem đến sự bất ngờ cho bạn.
Chú ý: Không nên cho đường vào nước rau ngót vì nó sẽ làm mất tác
dụng của nước thuốc.
* Kiêng kỵ :
- Đối với phụ nữ mang thai : thì các món ăn từ rau Ngót lại được
cảnh báo nguy hiểm nếu sử dụng nhiều.
- Cản trở quá trình hấp thụ canxi và phốt pho : Ngoài việc hỗ trợ
cho quá trình trao đổi chất trong cơ thể, glucocorticoid là kết quả của quá
trình trao đổi chất của lá rau ngót có thể gây cản trở cho quá trình hấp thụ
canxi và phốt pho, cả canxi và phốt pho có trong chính lá rau ngót cũng như
trong thực phẩm khác được ăn kèm với rau ngót.
- Gây mất ngủ : Tại Đài Loan, đã có báo cáo rằng trong những người uống nước
ép rau ngót (150g) từ 2 tuần đến 7
tháng đã xảy ra tác dụng phụ như có triệu chứng khó ngủ, ăn uống kém đi và khó
thở. Tuy nhiên, những triệu chứng này biến mất sau 1 ngày ngừng tiêu thụ.
Cây Bồ ngót
CHÒI MÒI
(Ngũ nguyệt
trà)
Mô tả : Cây gỗ cao 3-8m, nhánh cong queo, có lông thưa sau nhẵn
và có màu xám nhạt. Lá hình bầu dục hay hình thoi hẹp hoặc bầu dục tròn, có khi
hình tim, mặt dưới đầy lông như nhung. Cụm hoa chuỳ gồm 308 bông ở ngọn hay ở
nách lá phía trên. Hoa đực không cuống có 4-5 lá đài. Hoa cái gần như không cuống
có 4 lá đài. Quả tròn, to 4,5mm, hình bầu dục dẹt.
Người ta thường trồng Chòi mòi để làm cây cảnh vì nhánh nó cong queo tự
nhiên không cần uốn.
Phân bổ
: Phổ biến khắp ở Việt Nam. Còn có ở các nước
Á châu.
Bộ phận
dùng : Lá, thân cây, vỏ, hoa, quả đều được sử dụng.
Tính vị
- Tác dụng : Quả ăn được, có vị chua, dùng chữa được ho,
sưng phổi. Hoa dùng trị tê thấp. Vỏ dùng trị ỉa chảy và làm thuốc bổ. Lá dùng
ngoài giã đắp chữa đau đầu.
Công dụng
:
Chòi mòi rất đắng mà hàn
Ban nóng, lưỡi đỏ, yếu gân thì dùng
Khí huyết uật kết tâm trung
Cước khí, tê thấp nói chung rất tài.
MỘT SỐ BÀI THUỐC
1. Chữa ỉa chảy : dùng vỏ Chòi mòi, vỏ cây Vang núi và vỏ cây Gáo
tròn (nên Tàu gọi là tam bì ẩm thang),
mỗi thứ đều bằng nhau, độ một nắm, cho thêm 600ml nước sôi hãm lấy nước chia ra
uống 2-3 lần trong ngày.
2. Thuốc bổ cho phụ nữ mới sinh : lấy 7 miếng vỏ Chòi mòi dài 5-6cm, rộng cỡ 2 đốt lóng tay và lượng vỏ trái
Dứa (thơm) cũng tương đương, cho vào
nồi, đổ 3 chén nước sắc còn 1/3 chén. Dùng uống mỗi ngày 1 lần để lấy lại sức,
giữ da dẻ sau khi sinh. Uống liên tục chừng 1 tháng.
3. Ðiều kinh : dùng cành non Chòi mòi với rễ Ðu đủ, mỗi thứ một nắm to (khoảng 50g) cho vào 2-3 chén nước đun
sôi trong 1-2 giờ còn 1 chén lấy nước uống trong ngày. Uống cho đến khi kinh
nguyệt bình thường lại thì ngưng.
4. Chữa Ðau đầu : dùng lá Chòi mòi tươi giã ra đắp lên giữa đầu ngày
vài lần.
Cây Chòi mòi làm cảnh
Quả Chòi mòi
DÂU
Mô tả : Cây gỗ lớn cao tới 15m, màu nâu hay vàng vàng. Lá mọc so
le, phiến xoan dài 5-10cm, rộng 4-8cm, gốc hình tim hay gần như cụt, chóp tù
hay hơi nhọn, có thuỳ trên các nhánh tược còn non, có răng, với răng hình tam
giác, tù, khía rộng, gân gốc 3, các gân bên đạt tới chiều dài của phiến. Hoa
cùng gốc hay khác gốc, hoa cái thành bông đuôi sóc hơi dài hơn rộng, nhưng
không quá 2cm. Quả trắng hay hồng đỏ, thuộc dạng quả phức gồm nhiều quả bế bao
trong các lá dài đồng trưởng và trở thành mọng nước.
Phân bổ
: Nguyên sản ở Trung Quốc, từ xưa được trồng rộng
rãi ở nước ta và các nước châu Á để cho tằm ăn.
Bộ phận
dùng : Lá Dâu (Tàu
gọi là Tang diệp), vỏ dâu (Tàu gọi là
Tang bạch bì), cành Dâu (Tàu gọi là
Tang chi), vỏ Dâu (Tàu gọi là Tang thậm),
tổ bọ ngựa trên cây Dâu (Tàu gọi là
Tang phiêu diêu), Tầm gửi Dâu (Tàu gọi
là Tang ký sinh).
Có những bộ phận có thể thu hái quanh năm. Tầm gửi chỉ gặp ở những cây gỗ
lớn. Tổ Bọ ngựa dùng lúc chưa nở, phải đồ chín rồi sấy khô.
Tính vị
- Tác dụng : Lá Dâu có
vị đắng ngọt, tính bình, có tác dụng tán phong, thanh nhiệt, lương huyết, sáng
mắt. Người ta còn nhận thấy lá Dâu có tác dụng trị liệu đái đường, lại ức chế
trực khuẩn thương hàn, tụ cầu khuẩn. Vỏ rể Dâu đã cạo sạch lớp vỏ ngoài, phơi
hay sấy khô, có vị ngọt, hơi đắng, tính mát, có tác dụng thanh phế nhiệt, lợi
thuỷ, chỉ khái, hạ suyễn, tiêu sưng. Cành Dâu non đã phơi sấy khô có vị đắng nhạt,
tính bình, có tác dụng trừ phong, lợi các khớp, thông kinh lạc, tiêu viêm, hạ
nhiệt, giảm đau. Quả Dâu có vị ngọt, chua, tính mát, có tác dụng dưỡng huyết, bổ
gan thận, trừ phong. Cây tầm gởi Dâu có vị đắng, tính bình, có tác dụng mạnh
gân cốt, lợi huyết mạch, hạ hồng cầu, an thai, xuống sữa, lợi tiểu. Tổ bọ ngựa
trên cây Dâu có vị ngọt mặn, tính bình, có tác dụng ích thận, cố tinh, lợi tiểu.
Công dụng
:
Trồng Dâu láy lá nuôi tằm
Có tơ dệt vải, có ngàn thuốc hay
Lá Dâu đắng, ngọt, hàn thay
Thanh nhiệt, lương huyết, mắt hay đỏ, mờ
Tang ký sinh (Tầm gởi Dâu) bình, đắng lờ
An thai, mạnh cốt, nhức đờ gân, xương
Cành Dâu bình, đắng, vào gan
Phong thấp, cước khí, tiết quan an toàn
Vỏ, rể vị ngọt, tính hàn
Chỉ khái, bình suyễn, ngại bàn phế hư
Quả Dâu vị ngọt, chua, ôn
Bổ gan, bổ thận, khu phong, mắt mờ
Ngọt, mặn, bình, tang phiêu diêu (ổ tò vò trên cây Dâu)
Bế kinh, bổ thận, thêm điều di tinh.
MỘT SỐ BÀI THUỐC
1. Chữa chảy máu cam : Lấy
lá Dâu non, vò nhẹ và vo thành cái nút, nhét vào lỗ mũi chảy máu, máu cam sẽ
ngưng chảy rất nhanh. Đồng thời lấy 1 nắm lá Dâu rửa sạch, giã nát, vắt lấy
nước cho bệnh nhân uống 1 lần, máu cam sẽ ngừng hẵn.
2.
Chữa
nôn ra máu : Lấy 12-16g lá dâu và 7-9 ngọn cỏ Nhọ nồi (cỏ mực) sao vàng hạ thổ, đổ 400/ml nước
sắc còn 200/ml chia 2 lần uống trong ngày.
3.
Chữa
trẻ em đổ mồ hôi trộm : Dùng 7-9 lá dâu non, 8gam hạt Sen, 6gam Hoàng
kì; đổ ngập nước nấu đậm đặc, pha thêm chút đường kính, cho bé uống ngày 2-3
lần, mỗi lần 2 muỗng cà phê.
4.
Dùng
lá dâu nấu với bồ kết để gội đầu : vừa sạch gàu vừa đỡ rụng tóc.
5.
Chữa
phong thấp, đau lưng nhức mỏi, đau khớp xương : Cành Dâu 16g ; Mắc cỡ
đỏ 16g ; Cỏ xước 16g ; rễ cây Bưởi bung 12g; Thiên niên kiện 12g ; gốc và rễ cây
Lá lốt 16g. Tang kí sinh 12g.
Đổ
4 chén nước, sắc còn 1,5 chén chia làm 2 lần uống. Chỉ cần 3-4 vị trong bài
thuốc trên là đạt yêu cầu chữa bệnh. Uống mỗi ngày một thang, uống từ 7-10 ngày
sẽ thấy bệnh thuyên giảm rõ rệt.
Có
người còn dùng cành dâu nhỏ, cắt khúc, lấy dây chỉ xâu thành cái vòng để đeo
vào cổ tay em bé giống như vòng chuỗi hạt. Người ta cho rằng làm như vậy là để
em bé sẽ đỡ khóc đêm, đỡ bị giật mình khi ngủ.
6.
Ho khan, ho ra máu, chữa phù thũng, chữa cao huyết áp : Đào rễ Dâu , bóc lấy vỏ, bỏ lõi, cạo lớp vỏ bên
ngoài, ngâm nước vo gạo 24 giờ, phơi khô rồi sao vàng hạ thổ. Mỗi lần dùng từ
10-16g. Nếu bị ho lâu ngày, có thể cho thêm 10g vỏ rễ cây Chanh (cũng sao vàng hạ thổ), sắc uống.
7.
Chữa phù thũng : Vỏ rễ Dâu 16g; Vỏ quả Cau 16g ; Vỏ củ Gừng 8g ; Vỏ Phục
linh 16g ; Vỏ quýt 8g. Đây là bài Ngũ bì ẩm, một bài thuốc cổ của Đông y, chữa
bệnh phù thũng rất hiệu quả. (Vỏ Phục
linh hay còn gọi là Phục linh bì, có bán ở các tiệm thuốc bắc).
8. Chữa
phong thấp, nhức mỏi : Bài “Độc hoạt kí sinh thang” trong đó Tang kí
sinh (Tầm gởi trên cây Dâu) là đầu
vị, là bài thuốc cổ phương để chữa chứng đau nhức từ thắt lưng trở xuống,
thường dùng chữa bệnh cho các cụ cao tuổi. Bài thuốc gồm có: Tang kí sinh 20g;
Độc hoạt 8g; Tần giao 8g; Phòng phong 8g; Tế tân 4g; Đương quy 12g; Cam thảo
4g; Nhục quế 4g; Bạch thược 10g; Xuyên khung 8g; Ngưu tất 16g; Sinh địa 12g; Đỗ
trọng bắc 12g. Bài thuốc này khá lớn, nên khi sắc, ta đổ nước ngập thuốc khoảng
3cm, sắc còn 2 chén, chia làm 3 lần uống trong ngày. Sắc lần thứ 2 đổ nước ngập
thuốc 1cm. Hoặc tất cả tán mịn viên thành hoàn uống.
9.
Chữa chứng động thai : người có thai mà đau bụng, ra huyết; hay người
bị sẩy thai nhiều lần liên tiếp. Bài thuốc gồm có: Tang kí sinh 12g ; Lá ngải
cứu 12g ; Cành tía tô 12g; Củ cây gai 12g. Đổ 600ml nước, sắc còn 200ml chia làm
2 lần uống trong ngày.
10.
Bổ thận, cố tinh, sáp niệu : Tang phiêu tiêu (tổ Bọ ngựa trên cây Dâu) nướng vàng, tán thành bột, ngày uống 5
gam. Hoặc dùng: Tang phiêu tiêu 4g; hạt Sen 16g; Yếm rùa 12g; Lá dâu non 16g;
Dây Lạc tiên (hơ qua lửa cho cháy hết
lông) 16g. Đổ 4 chén nước sắc còn 1,5 chén, chia 2 lần uống trong ngày.
Cũng dùng để chữa chứng tiểu đêm nhiều lần, di tinh, mất ngủ, đái dầm, phụ nữ
bị bệnh bạch đới, khí hư…
11.
Bổ thận và làm cho tóc chậm bạc : Hái 1 kg trái Dâu chín thâm (Tàu gọi là Tang thậm), thêm 100g Hà thủ
ô đỏ, ngâm với rượu 7 ngày dùng mỗi ngày 1 ly uống rượu sau các bữa ăn chính.
12.
Bệnh đái dầm và chứng nghiến răng khi ngủ ở trẻ em : Sâu dâu, là loài
sâu đục thân, thường nằm trong thân cây Dâu ở đoạn gốc. Bắt sâu dâu nướng cho
trẻ em ăn.
13. Phục hồi trí nhớ : Gần đây các nhà khoa học còn phát hiện ra lá Dâu và quả Dâu còn giúp phục hồi trí nhớ như cây Thông đất vậy.
Mỗi ngày lấy một nắm lá Dâu lớn nấu nước uống thay nước chè. Uống liên tục nhiều tháng trí nhớ sẽ phục hồi.
Lấy quả Dâu chín dầm rượu uống trước mỗi bữa ăn 1 ly nhỏ cũng tăng cường trí nhớ rất tốt.
Cây Dâu
Trái Dâu
GỪNG
(Sinh
khương)
Mô tả : Cây thảo cao tới 1m. Thân rể nạc và phân nhánh xoè ra như
hình bàn tay gần như trên cùng một mặt phẳng, màu vàng, có mùi thơm. Lá mọc so
le, không cuống, hình mác, có gân giữa hơi traứng nhạt, hki vò có mùi thơm. Cán
hoa dài cỡ 20cm, mang cụm hoa hình bông, gồm nhiều hoa mọc khít nhau. Hoa có
tràng hoa màu vàng xanh, có thuỳ gần bằng nhau, nhọn. Cánh môi ngắn hơn các thuỳ
hoa tràng, màu tía, với những chấm vàng. Nhị hoa màu tím.
Phân bổ
: được trồng khắp nơi ở nước ta để làm gia vị
và làm thuốc. Gừng tái sinh dễ dàng bằng những đoạn thân rể có nhú mầm, ưa sống
ở đất mùn ẩm và bóng mát.
Bộ phận
dùng : thân rể thường gọi là củ. Khi làm thuốc người
ta đào củ về cắt bỏ thân lá, rữa sạch, phơi hay sấy khô gọi là Can khương. Để
tươi gọi là Sinh khương.
Tính vị
- Tác dụng : Gừng sống (sinh khương) có vị cay, tính hơi ấm, có tác dụng chống lạnh, tiêu
đờm, chặn nôn, giúp tiêu hoá. Gứng nướng có vị cay ấm, có tác dụng chữa đau bụng
lạnh dạ đi ngoài. Gừng khô có vị cay nóng, tính hàn. Vỏ gừng tiêu phù thũng.
Công dụng
:
Củ Gừng tính ấm mà cay
Ôn tủng, giải biểu, thuốc nấy trừ ho
Đau bụng, thổ tả, chớ lo
Hàn âm, suyễn khái, bụng to cũng mềm.
MỘT SỐ BÀI THUỐC
1. Lở loét miệng : Dùng nước Gừng nóng súc miệng,
mỗi ngày từ 2 đến 3 lần. Thông thường súc vài ba ngày là hết lở loét.
2. Đau răng do viêm nha chu gây ra : Dùng nước Gừng nóng súc miệng
thay nước trà, sáng tối một lần. Hoặc có thể cắn miếng gừng tại chỗ đau răng,
có thể làm giảm nhanh cơn đau.
3. Đau nửa đầu (Thiên đầu thống) : Khi bị đau nửa đầu, có thể dùng
nước Gừng nóng để ngâm hai tay khoảng 15 phút. Cảm giác đau sẽ giảm nhẹ hoặc
biến mất.
4. Giải rượu : Dùng nước Gừng nóng hoà thêm 1
muỗng canh mật ong, uống vào có thể giảm bớt hoặc loại bỏ say rượu.
5. Đầu có gàu : Trước tiên là dùng Gừng tươi
giã nát chà rửa tóc, sau đó dùng nước Gừng nóng gội đầu, sẽ giúp ngăn ngừa và
trị gầu.
6. Đau lưng dưới bả vai : Cho một ít muối và chút giấm
vào trong nước Gừng nóng, sau đó dùng khăn thấm nước, rồi đắp vào chỗ đau, làm
đi làm lại nhiều lần có thể làm giảm cơn đau.
7. Bệnh giun sán : Mỗi tối trước khi đi
ngủ, dùng nước Gừng nóng rửa sạch vùng bụng và uống từ 1-2 ly nước Gừng nóng.
Duy trì trong khoảng 10 ngày là hết giun sán.
8. Chữa hôi chân : Nấu nước Gừng để khi
còn nóng cho thêm chút muối và giấm, ròi ngâm chân khoảng 15 phút rồi lau khô.
Sau đó thoa thêm ít phấn hoạt thạch. Làm vài lần mùi hôi sẽ biến mất.
9. Cao huyết áp : Lúc huyết áp tăng
cao, có thể dùng nước Gừng nóng ngâm chân khoảng 15 phút.
10. Đau đầu do cảm lạnh : Ngâm hai chân
vào trong nước Gừng nóng ngập đến mắt cá và ngâm đến khi mu bàn chân đỏ lên là
được. Có thể cho thêm muối và giấm vào trước khi ngâm.
11. Nổi mề đay : 10 miếng Gừng tươi, 3g
bột Quế, 30g đường vàng, 50g gạo lứt, nấu cháo lỏng ăn 2 lần mỗi ngày.
12. Cổ họng sưng đau : Cho một chút
muối ăn vào trong nước Gừng nóng, uống hằng ngày như uống trà.
13. Đau xương khớp : Ăn Gừng
tươi hoặc dùng nước Gừng chà vào chỗ đau, cơn đau sẽ giảm rõ rệt.
14. Đau bụng kinh : Bỏ 2-3 hạt Sơn
trà hay hạt bưỡi vào nước Gừng nấu với đường vàng, uống ngày 2-3 lần, ít ngày
là khỏi.
15. Nổi rôm, sảy : Dùng Gừng cắt lát
đắp bên ngoài, rôm sảy sẽ nhanh chóng biến mất. Người lớn và trẻ con đều dùng
được.
16. Mùi hôi cơ thể : Mỗi ngày giã Gừng
chà nhiều lần có thể giảm mùi hôi rõ rệt. Hoặc nấu nước Gừng tắm cũng được.
17. Trị vết thương chảy máu : Lấy Gừng
nướng cháy nghiền thành bột mịn. Sau khi làm vệ sinh khử trùng vết thương, rắc
bột Gừng lên vết thương sẽ làm giảm đau và cầm máu ngay tức khắc.
18. Vết thương rắn cắn : Dùng bột Gừng
đắp ngoài vết rắn cắn, chất độc sẽ được hút ra.
19. Say xe : Uống một ít nước Gừng
trước khi lên xe, hoặc cắt một miếng Gừng dán vào phía trong cổ tay tại vị trí
cách đường kẻ sọc cổ tay khoảng 2 phân, dùng băng keo cá nhân dán lại. Cũng có
thể ngậm vài lác Gừng trong lúc ngồi trên xe, sẽ giúp hạn chế say xe nôn ói.
20. Buồn nôn ói mửa : Khi dọn đồ dơ hay
gặp mùi không hợp muốn nôn, trước khi làm nên ngậm vài lác Gừng sống.
Cây Gừng và hoa
Củ Gừng
LÁ LỐT
Mô tả : Cây thảo sống lâu, cao 30-40cm hay hơn, mọc bò. Thân phồng
lên ở các mấu, mặt ngoài có nhiều đường rãnh dọc. Lá đơn, nguyên, mọc so le,
hình tim, có 5 gân chính toả ra từ cuống lá, cuống có gốc bẹ ôm lấy thân. Cụm
hoa bông đơn mọc ở nách lá. Quả mọng chứa 1 hạt.
Phân bổ : Mọc hoang và được trồng nhiều nơi ở nước ta để làm rau
ăn.
Bộ phận dùng : Toàn cây.
Tính vị
- Tác dụng : Lá Lốt có vị cay, mùi thơm, tính ấm, có tác
dụng ôn trung, tán hàn, hạ khí, chỉ thống.
Công dụng
:
Lá lốt tính ấm, cay, nồng
Đau bụng, hoắc loạn, mà lòng chẳng yên
Chân tay đau nhức triền miên
Đạo hãn, hàn huyết, thuốc liền uống ngay.
MỘT SỐ BÀI THUỐC
Lá lốt là loại rau quen thuộc và được dùng phổ biến trong các bữa ăn. Lá
lốt thường được sử dụng ăn sống như các loại rau thơm hoặc làm rau gia vị khi
nấu canh. Dưới góc độ của y học cổ truyền, lá lốt còn là vị thuốc chữa được rất
nhiều bệnh.
1.
Trị chứng ra nhiều mồ hôi ở tay, chân : Lá lốt tươi 30g, rửa sạch, để ráo cho vào 1 lít nước đun sôi
khoảng 3 phút, khi sôi cho thêm ít muối, để ấm dùng ngâm hai bàn tay, hai bàn
chân thường xuyên trước khi đi ngủ vào buổi tối. Thực hiện liên tục trong 5-7
ngày.
Hoặc lá lốt 30g, thái nhỏ, sao vàng hạ thổ. Sắc với 3 bát nước còn 1 bát. Chia 2 lần, uống trong ngày. Uống trong 7 ngày liền. Sau khi ngừng uống thuốc 4 đến 5 ngày lại tiếp tục uống một tuần nữa.
Hoặc lá lốt 30g, thái nhỏ, sao vàng hạ thổ. Sắc với 3 bát nước còn 1 bát. Chia 2 lần, uống trong ngày. Uống trong 7 ngày liền. Sau khi ngừng uống thuốc 4 đến 5 ngày lại tiếp tục uống một tuần nữa.
2. Chữa bệnh tổ đỉa ở bàn tay : 30g lá lốt tươi, rửa sạch, giã nát, vắt lấy 1 bát nước đặc, uống trong ngày. Còn bã cho vào nồi đun với 3 bát nước, đun sôi khoảng 5 phút rồi vớt bã để riêng. Nước dùng để rửa nơi có tổ đỉa, sau đó lau khô lấy bã đắp lên, băng lại. Ngày làm 1-2 lần, liên tục trong 5-7 ngày.
3. Chữa mụn nhọt vỡ mủ lâu ngày không liền miệng : Lá lốt, lá chanh, lá ráy, tía tô, mỗi vị 15g. Cách làm: Trước tiên lấy lớp vỏ trong của cây chanh (bỏ vỏ ngoài) phơi khô, giã nhỏ, rây bột mịn rắc vào vết thương, sau đó các dược liệu trên rửa sạch, giã nhỏ đắp vào nơi có mụn nhọt rồi băng lại. Ngày đắp 1 lần. Đắp trong 3-5 ngày.
4.
Viêm nhiễm âm đạo, ngứa, ra nhiều khí hư : Lấy 50g lá lốt, 40g nghệ, 20g phèn chua, đổ nước
ngập thuốc khoảng hai đốt ngón tay, đun sôi thì bớt lửa sôi liu riu khoảng 10 -
15 phút rồi chắt lấy một bát nước, để lắng trong, dùng rửa âm đạo. Số thuốc còn
lại đun sôi để xông hơi vào âm đạo, rất hiệu nghiệm.
5. Trẻ bị tiêu chảy nhiều lần : Lá lốt 20g, củ riềng 10g, sắc 2 thứ lấy nước đặc cho trẻ uống 2 - 3 lần liền. Mỗi lần cách nhau 60 phút.
5. Trẻ bị tiêu chảy nhiều lần : Lá lốt 20g, củ riềng 10g, sắc 2 thứ lấy nước đặc cho trẻ uống 2 - 3 lần liền. Mỗi lần cách nhau 60 phút.
6.
Đau bụng do lạnh : Lá lốt tươi 20g, rửa sạch, đun với 3 chén nước còn 1 chén. Uống
trong ngày khi thuốc còn ấm, nên uống trước bữa ăn tối. Dùng liên tục trong 2
ngày.
7. Đầu gối sưng đau : Lá lốt, ngải cứu mỗi vị 20g (tất cả dùng tươi), rửa sạch, giã nát, thêm giấm chưng nóng, đắp, chườm nơi đầu gối sưng đau.
8. Chữa phù thũng do thận : Lá lốt 20g, cà gai leo, rễ mỏ quạ, rễ tầm gai, lá đa lông, mã đề mỗi vị 10g. Sắc với 5 chén nước còn 1 chén, uống trong ngày. Uống sau bữa ăn trưa khi thuốc còn ấm. Dùng trong 3-5 ngày.
7. Đầu gối sưng đau : Lá lốt, ngải cứu mỗi vị 20g (tất cả dùng tươi), rửa sạch, giã nát, thêm giấm chưng nóng, đắp, chườm nơi đầu gối sưng đau.
8. Chữa phù thũng do thận : Lá lốt 20g, cà gai leo, rễ mỏ quạ, rễ tầm gai, lá đa lông, mã đề mỗi vị 10g. Sắc với 5 chén nước còn 1 chén, uống trong ngày. Uống sau bữa ăn trưa khi thuốc còn ấm. Dùng trong 3-5 ngày.
9. Giải cảm thương hàn : Lấy một nắm 20 lá lốt già (thái sợi), một nắm gạo vo sạch, nửa củ hành tây (hoặc hành tím), 1 tép tỏi, 5 nhánh hành hương nhỏ, 2gr gừng thái lát mỏng, gia vị nêm. Nấu sôi với 150ml nước, sau 15 phút nhấc xuống, bỏ vào 1 quả trứng gà, khuấy đều. Ăn xong, lau mồ hôi sẽ khỏe.
10. Viêm tinh hoàn : Tinh hoàn sưng to, người mệt mỏi, không chịu chơi, ít vận động, hay nằm: lá lốt 12g, lệ chi 12g, bạch truật 12g, trần bì 10g, bạch linh 10g, sinh khương 21g, sơn thù 6g, phòng sâm 6g, hoàng kỳ 5g, cam thảo (chích) 4g. Đổ 6 chén nước, sắc còn 1,5 chén, chia nhiều lần cho trẻ uống trong ngày.
Lá Lốt
LẺ BẠN
(Sò huyết,
Bạng hoa)
Mô tả : Cây lẻ bạn còn gọi là cây Sò huyết vì hoa của nó giống
con sò huyết, thuộc họ Thần tài. Cây sống lâu năm, thân cao 30-40cm, đường kính
2,5-5cm, phủ bởi bẹ lá, không phân nhánh. Lá dài 18-28cm, rộng 3-5cm, không cuống,
có bẹ, mặt trên có màu lục, mặt dưới có màu tía. Cụm hoa hình tán đẹng trong 2
cái mo úp vào nhau nom như co sò. Hoa có 3 lá đài, 3 cánh hoa màu trắng vàng, 6
nhị gần bằng nhau, bầu 8 ô. Quả nan dài 3-4cm, 3 ô, mở thành 3 mảnh vỏ, chứa 1
hạt có góc và cứng.
Phân bố : Khắp nơi ở
Việt Nam. Cây thường được trồng tron chậu cảnh, hay dọc hai bên lối đi cho đẹp,
ra hoa vào mùa hè.
Bộ phận dùng : Hoa và
lá, thu hái quanh năm, phơi trong bóng râm để dành làm thuốc. Cũng dùng tươi.
Tính vị - Tác dụng : Lẻ bạn có vị
ngọt và nhạt, tính hàn. Hoa có tác dụng thanh nhiệt, nhuận phế, lương huyết giải
độc, hoá đàm, chỉ khái, chỉ lỵ. Lá có tác dụng thanh nhiệt, chỉ huyết, khư ứ.
Công dụng :
Sò huyết ngọt, đắng mà hàn
Là thuốc cầm máu rõ ràng rất hay
Vào hai can, phế kinh nầy
Chỉ khái, xuất huyết, trị ngay tức thì.
1.
Hỗ trợ điều trị viêm khí quản : Hoa
Lẻ bạn 15g, rửa sạch, thái nhỏ, trộn với đường phèn hoặc mật ong 10g. Đem chưng
cách thủy trong 15-20 phút. Để nguội, uống làm 2-3 lần trong ngày.
Hoặc có thể áp dụng cách sau : Hoa
Lẻ bạn 15g, vỏ Núc nác 5g, thái nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml, chia làm 2
lần uống trong ngày.
2.
Chữa ho do phế nhiệt, đờm vàng, đặc khó khạc ra : Hoa Lẻ
bạn 30-40g, để tươi, rửa sạch, giã nát, thêm nước, gạn uống, hoặc phơi khô, sắc
lấy nước đặc uống một lần trong ngày, dùng liền 3 ngày.
3.
Chữa cảm sốt, ho, đau đầu : Hoa Lẻ
bạn 15g, rễ cây Chòi mòi 10g, vỏ cây Kim phượng hoa vàng 10g, phơi khô, thái nhỏ,
sắc với 400ml nước còn 100ml, chia làm 2 lần uống trong ngày. Uống 3-5 ngày.
4.
Chữa tiểu tiện không thông : Hoa Lẻ bạn 15g, rau Diếp cá 15g, rau Má 20g, rễ Cỏ tranh 10g,
râu Bắp 10g. Tất cả dùng tươi, rửa sạch, sắc uống ngày một thang, chia 2 lần
uống 2 lần trong ngày. Dùng liền 7 ngày.
5. Lao bạch huyết : Lá Lẻ bạn tươi
30-50g sắc uống hằng ngày.
Cây Lẻ bạn
Hoa Lẻ bạn
NGHỆ VÀNG
Hiện nay dư luận tung tin rằng Nghệ đen chữa được bệnh
ung thư rất hay nên người ta đổ xô đi tìm mua khiến cho sản phẩm nầy kha hiếm.
Nhưng thực ra các nhà khoa học cho rằng chính Nghệ vàng mới chữa được bệnh ung
thư và nhiều bệnh khác, còn Nghệ đen chỉ chữa những bệnh thông thường thôi. Có
lẻ do Nghệ đen còn có tên là Ngãi đen nên người ta nhầm lẫn mê tín thôi.
Mô tả
: Cây thảo sống nhiều năm, cao khoảng 1m. Thân
rể phát triển thành củ hình khối, trên đó sinh ra nhiều rể trụ có màu vàng cam.
Rể to, mọc từ rễ củ, đợn cuối luôn phình to thành hình thoi. Lá mọc so
le, có bẹ, hình dải rộng. Hoa màu vàng xếp thành bông hình trụ ở ngọn thân. Lá
bắc màu lục hay màu trắng nhạt pha hồng ở chóp lá. Quả hình cầu có 3 ô.
Phân bổ
: Được trồng để làm gia vị và làm thuốc ở khắp
các địa phương nước ta.
Bộ phận
dùng : Thân rễ, thường gọi là khương hoàng.
Thân rễ thường được thu hái tháng 8-9, cắt bỏ hết rễ để riêng, muốn để
lâu phải hấp trong khoảng 6-12 giờ, sau đó để ráo nước rồi đem phơi nắng hay sấy
khô.
Tính vị
- Tác dụng : Nghệ có vị đắng, cay, coa mùi thơm hắc, tính
ấm, có tác dụng hành khí, phá ứ, thông kinh, chỉ thống. Người ta cũng biết được
lá có tác dụng tiêu mủ, lên da non, thông mật, làm tăng sự bài tiết mật của tế
bào gan, phá cholesterol trong máu. Tinh dầu nghệ có tác dụng diệt nấm ngoài da
và phá khuẩn.
Công dụng
:
Nghệ đen đắng, cay, tính ôn
Phá huyết, hành khí, lại còn hoá tiêu
Bụng, ngực đau nhức tiêu điều
Đầy hơi, hen suyễn, một liều là xong
Lại thêm kinh nguyệt thăng trầm
Tiêu trừ thấp nhiệt, thuốc thần dùng ngay.
MỘT SỐ BÀI THUỐC NGHỆ
VÀNG
1. Làm gia vị : Nghệ được
sử dụng phổ biến làm gia vị cho các món ăn. Hơn thế, nghệ còn chứa rất nhiều
các chất như chất chống oxy hóa, kháng virus, kháng khuẩn, kháng nấm, chống ung
thư, kháng đột biến và chống viêm.
Do đó, nó được sử
dụng nhiều để làm thuốc chữa bệnh.
2. Chữa bệnh trầm cảm : Một lợi ích đáng kinh ngạc về Nghệ là
nó có thể giúp hỗ trợ điều trị căn bệnh trầm cảm.
Nghệ từ lâu đã được
sử dụng trong y học Trung Quốc và phương pháp chữa bệnh Ayuverdic của Ấn độ để
điều trị trầm cảm.
Nghệ mang lại lợi
ích trong việc giảm triệu chứng trầm cảm liên quan đến stress.
3. Trị mụn : Nhờ vào tính
chất kháng khuẩn và khử trùng có chứa trong nghệ, mụn trứng cá có thể được điều
tiết và giảm nhẹ một cách hiệu quả.
Đối với những người
sở hữu làn da quá nhờn thì việc thường xuyên xử dụng nghệ có thể giúp kiểm soát
sự tiết dầu trên da cũng như khiến các vết sẹo mụn trứng cá mờ dần và biến mất
theo thời gian.
Chỉ cần trộn một ít
bột nghệ với bột gỗ đàn hương và một lượng nhỏ nước cốt chanh đã có ngay một
liệu trình trị liễu ít tốn kém nhưng cực kì hiệu quả.
Mổi buỗi tối trước
khi đi ngủ, các bạn nữ hãy dành ít phút thoa mặt nạ. Nên lưu ý đợi cho mặt nạ
khô rồi rửa lại bằng nước lạnh tránh tình trạng nhiễm khuẩn cho da.
4. Cầm máu : Nghệ giúp
cầm máu rất nhanh, hơn nữa nó lại có thể kháng khuẩn, giúp ngăn ngừa nhiễm
trùng.
Khi bị các vết đâm
hay đứt tay chân… đổ bột nghệ vào chỗ vết thương, sau đó dùng gạc băng lại và
ép nhẹ vào chỗ bị thương để cầm máu. Trường hợp nghiêm trọng ngay lập tức cần
phải đưa đi bệnh viện kịp thời.
5. Bệnh ung bướu :
Curcumin (thành phần hoạt chất chính
trong tinh bột nghệ) có tiềm năng đáng kể như một tác nhân phòng chống ung
bướu.
Có rất nhiều bằng
chứng trong các tài liệu cho thấy rằng tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong của các loại
phổ biến của bệnh ung bướu như vú, tuyến tiền liệt, ruột kết và phổi thấp hơn
đáng kể ở Ấn Độ hơn so với những người ở các quốc gia phương Tây như Hoa Kỳ.
Tỷ lệ mắc ung bướu
thấp hơn ở Ấn Độ đã được quy cho mức tiêu thụ chất curcumin cao (trong các loại nghệ) của người dân Ấn
Độ.
Tất nhiên, các thành
phần khác của chế độ ăn uống của họ như tỏi, gừng, hành tây, cà chua, các loại
rau, ớt, trà xanh ... cũng có thể đóng một vai trò quan trọng trong khả năng
của họ để phòng chống lại sự tấn công của các bệnh ung bướu.
6. Phòng chống bệnh tim :
có thể làm giảm hàm lượng cholesterol độc hại trong máu và có khả năng phòng
chống lại chứng xơ vữa động mạch bằng tinh bột nghệ.
7. Chữa bệnh viêm khớp :
Tinh bột nghệ có tác dụng giảm đau khi bị chứng viêm khớp quấy nhiễu. Cách làm
rất đơn giản, là đun nóng một cốc sữa, trước khi sôi, bắc xuống cho một thìa cà
phê bột nghệ vào rồi khuấy đều. Mỗi ngày uống ba lần, sẽ thấy hiệu quả bất ngờ.
8. Viêm loét dạ dày, hành tá
tràng : Lấy 1kg nghệ tươi cạo sạch vỏ, rửa sạch, cắt lát nhỏ, bỏ vào
máy xay sinh tố xay nhuyễn, hoà với khoảng ½ lít mật ong rừng rồi đỏ vào hủ
thuỷ tinh cất vào tủ lạnh dùng dần. Mỗi lần uống 1 muỗng canh sau 3 bữa ăn
chính. Uống liên tục cho đến khi hết bệnh.
Hiện nay trên thị
trường có bán hộp thực phẩm chức năng tinh nghệ “Cumar GOLD” rất hay, có thể dùng thay thế cho việc tự làm
thuốc trên.
Bài thuốc nầy cũng
chữa được bệnh Mở trong máu, mở trong gan và nhiều bệnh khác rất hay.
Cây Nghệ vàng và hoa
Củ Nghệ vàng
SÚNG
Mô tả
: Cây sống ở nước, thân rể ngắn, có nhiều củ
nhỏ. Lá mọc nổi trên mặt nước, có cuống dài, phiến tròn hay xoan, mép có răng,
mặt trên xanh lục, mặt dưới tím. Hoa mọc riêng lẻ, màu tím hoặc xanh lơ, có khi
trắng, rộng 7-15cm, thường có 4-6 lá dài xanh có đốm đen, 11-14 cánh hoa, khoangr
40 nhị với bao phấn có mỏ vàng, nhiều lá noãn rời nhau.
Phân bổ
: Phổ biens khắp nơi ở Việt Nam, mọc trong các
hồ ao. Hay dùng làm cây cảnh.
Bộ phận
dùng : Thân, rể và hoa.
Tính vị
- Tác dụng : Súng là loại cây có tác dụng làm dịu dục
tình, chống co thắt, gây ngủ, bổ tim và hô hấp. Rể có tác dụng cường tráng, thu
liễm.
Công dụng
:
Bông Súng ngọt, chát, tính lại bình
Bổ tì, ích thận, lại sáp tinh
Di tinh, mộng, hoạt, lại bạch đới
Thần kinh hư nhược, thuốc tài tình.
Theo
Y học cổ truyền, các bộ phận của cây Súng được dùng làm thuốc thanh nhiệt, chống
say nắng, cầm máu... Đặc biệt, nó còn trị hiệu quả chứng co giật ở trẻ, đau
lưng mỏi gối, nam bị di tinh hoặc phụ nữ khí hư bạch đới.
MỘT SỐ BÀI THUỐC
1. Nam di tinh, đái nhiều, nữ khí hư bạch đới không dứt: Bài thuốc gồm củ Súng sao, Kim anh bỏ hạt ở trong vì có độc, lấy lớp vỏ bao ngoài, đốt cho cháy sạch lông gai, sao giòn. Các vị lượng bằng nhau, tán bột uống mỗi ngày 15-20g với nước sắc rễ Ý dĩ làm thang.
2. Thận hư, tỳ yếu, đau mỏi ngang thắt lưng : củ Súng 20g, Ba kích, Cẩu tích, Tỳ giải (tẩm rượu sao), Hà thủ ô (chế với đậu đen đồ phơi 9 lần), Ngưu tất mỗi vị 12g. Sắc uống ngày một thang.
3. Giải cảm nắng : củ Súng nấu chè ăn.
4. Suy nhược cơ thể, mồ hôi trộm, di tinh : củ Súng nấu chín, bóc vỏ 400g. Củ Mài nấu chín, bóc vỏ 800g. Phơi khô tán nhỏ, mỗi lần dùng 10g nấu thành cháo ăn hằng ngày lúc đói. Bài thuốc này còn có tác dụng bồi bổ, ích chí, mạnh tinh.
1. Nam di tinh, đái nhiều, nữ khí hư bạch đới không dứt: Bài thuốc gồm củ Súng sao, Kim anh bỏ hạt ở trong vì có độc, lấy lớp vỏ bao ngoài, đốt cho cháy sạch lông gai, sao giòn. Các vị lượng bằng nhau, tán bột uống mỗi ngày 15-20g với nước sắc rễ Ý dĩ làm thang.
2. Thận hư, tỳ yếu, đau mỏi ngang thắt lưng : củ Súng 20g, Ba kích, Cẩu tích, Tỳ giải (tẩm rượu sao), Hà thủ ô (chế với đậu đen đồ phơi 9 lần), Ngưu tất mỗi vị 12g. Sắc uống ngày một thang.
3. Giải cảm nắng : củ Súng nấu chè ăn.
4. Suy nhược cơ thể, mồ hôi trộm, di tinh : củ Súng nấu chín, bóc vỏ 400g. Củ Mài nấu chín, bóc vỏ 800g. Phơi khô tán nhỏ, mỗi lần dùng 10g nấu thành cháo ăn hằng ngày lúc đói. Bài thuốc này còn có tác dụng bồi bổ, ích chí, mạnh tinh.
5. Hen suyễn ở người già và trẻ em : củ Súng và hạt Cải củ,hai thứ lượng bằng nhau, đem đồ chín, phơi khô, tẩm nước cốt Gừng, tán nhỏ thành bột, luyện với mật ong thành viên hoàn bằng hạt ngô đồng, ngày uống 50 viên với nước sôi. Bài thuốc còn có tác dụng bổ dưỡng, giảm ho, cắt cơn hen.
Cây Súng trắng
TÀI LIỆU
THAM KHẢO
-
Bộ sách Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của Giáo sư Tiến sĩ Đỗ Tất Lợi,
-
Bộ Tự điển Cây thuốc Việt Nam (1-2) của Phó tiến sĩ Võ Văn Chi,
-
“Dược liệu Miền Nam & Công dụng” của bác sĩ Nguyễn Công Tỷ và lương y Huỳnh
Văn Thanh, Uỷ ban Khoa học tỉnh Tây Ninh phát hành.
-
Trên mạng internet,
-
Tạp chí Số tay y học,
-
Báo Dân trí,
-
Báo Thanh Niên,
-
Báo Tuổi Trẻ,
-
Báo Người Lao động,
Cây Sống đời làm cảnh
(HẾT TẬP 4)
Phú Ninh – Quảng Nam
Mùa An cư PL.2561
(tháng 6-2017)
THÍCH NGUYÊN
CHƯƠNG
*****
***
*


















dịch vụ diệt mối tại hà nội
Trả lờiXóadiệt chuột
diet moi
diet moi tai nha
diệt mối
diet moi tan goc