Chủ Nhật, 2 tháng 4, 2017





NGUYÊN CHƯƠNG
Sưu tầm


Một số
CÂY THUỐC NAM
Thông dụng
(TẬP 3)
PHÁT HÀNH LẦN THỨ 1 (04-2017)


LƯU HÀNH NỘI BỘ
(sách tặng không bán)

TỊNH THẤT NGUYÊN CHƯƠNG
Tổ 2, thôn Khánh An, xã Tam Dân, huyện Phú Ninh,
Tỉnh Quảng Nam


 Hoa Ngải rợm


ĐÔI LỜI TÁC BẠCH

      Mấy năm qua, chúng tôi đã lần lượt phát hành 10 bộ sách nhỏ gởi tặng thập phương, gồm 9 quyển “Những bài thuốc Nam dân gian hiệu nghiệm” từ số 1 đến số 9, bốn quyển sách đặc biệt : Địa long thần dược cứu mạng, Giấm táo–Mật ong thần dược chữa bệnh, sống lâu;  những phương thuốc thần chữa bệnh ung thư. Và đặc biệt bộ sách Cây Cần sen-thần dược chữa bệnh, Nhà nhà trồng cây Cần sen để làm thuốc chữa bệnh, Một số cây thuốc Nam thông dụng 1, 2.

      Được sự khuyến khích động viên của quý chư liệt vị, chúng tôi tiếp tục không ngừng sưu tầm nghiên cứu các bài thuốc mới với những vị thuốc dễ tìm để giúp người bệnh khắp nơi có điều kiện chữa bệnh dễ dàng, ít tốn kém nhưng hiệu quả cao. Sưu tầm được bài nào chúng tôi cho chữa thử nghiệm, điều chỉnh liều lượng thuốc đến khi có kết quả tốt.
      Nay có nhân duyên, chúng tôi xin giới thiệu tiếp tập sách nhỏ “MỘT SỐ CÂY THUỐC NAM THÔNG DỤNG quyển 3”. Trong mỗi gia đình nên trồng những cây thuốc nầy, xem như có một vị thầy thuốc Nam thường trực trong nhà, sẽ tự chữa được những bệnh thường gặp nhất, không cần phải đi xa. Vì hiện nay ở nước ta thuốc Nam được xem là vị thuốc hiệu quả nhất được đa số người dân tin dùng, nhất là những người nghèo không đủ điều kiện đến bệnh viện, hay ở quá xa nhà thương, y bác sĩ. Theo kinh nghiệm, trồng thuốc Nam trên đất tự nhiên dược tính cao hơn trồng trong chậu kiểng.
      Mong quý vị đón nhận với sự tin tưởng cao để tiện lợi tham khảo trong việc chữa bệnh và giúp chúng tôi giới thiệu đến mọi người biết hưởng ứng.
      Mọi ý kiến đóng góp, bổ sung, hay có nhu cầu về sách thuốc, xin quí vị vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại : 0983.710.463 – 0908.694563 (Nguyên Chương), địa chỉ : TỊNH THẤT NGUYÊN CHƯƠNG, tổ 2, thôn Khánh An, xã Tam Dân, huyện Phú Ninh, tỉnh, Quảng Nam, chúng tôi sẽ hoan hỷ tiếp thu, hoặc gởi sách đến tận nơi kính biếu.
      Nhân đây, xin chân thành cảm ơn Giáo sư Tiến sĩ Đỗ Tất Lợi, Phó tiến sĩ Võ Văn Chi, các tòa soạn báo chí, các phương tiện truyền thông, các tác giả trên mạng internet đã tạo duyên cho chúng tôi trích dẫn một số tài liệu liên quan để thực hiện tập sách nhỏ nầy. Xin cảm ơn các vị lương y thân hữu đã trực tiếp góp ý. Xin thành tâm hồi hướng tất cả công đức có được đến quý vị và gia đình.
Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật,
Nam Mô Thường Hoan Hỷ Bố Thí BồTát
Ma Ha -Tát.

                                                                Phú Ninh – Quảng Nam, tháng 04-2017
                                          NGUYÊN CHƯƠNG

Chè dây


TÊN CÁC CÂY THUỐC ĐƯỢC SẮP XẾP
THEO THỨ TỰ A-B-C
*****

BA KÍCH
        Mô tả : Ba kích còn có tên là Dây ruột già, Chẩu phóng xì (Quảng Ninh), Ba kích thiên (Trung Quốc)… Tên khoa học Morinda officinalis stow. họ cà phê (RUBIACEAE). Tên dân gian: Vị thuốc Ba kích (Bản Thảo Đồ Kinh), còn gọi là Bất điêu thảo (Nhật Hoa Tử Bản Thảo), Ba cức, Diệp liễu thảo, Đan điền âm vũ, Lão thử thích căn, Nữ bản (Hòa Hán Dược Khảo), Kê nhãn đằng, Đường đằng, Tam giác đằng, Hắc đằng cổ (Trung Dược Đại Từ Điển), Kê trường phong (Trung Dược Chí), Tam mạn thảo (Đường Bản Thảo), Thỏ tử trường (Trung Dược Tài Thủ Sách), Dây ruột gà (Việt Nam). Là cây dây leo bằng thân quấn, sống nhiều năm. Ngọn có cạnh, màu tím, có lông, khi già thì nhẵn. Lá mọc đối, hình mác hoặc bầu dục thuôn nhọn; phiến lá cứng có lông tập trung ở mép và ở gân, khi già ít lông hơn, màu trắng mốc, dài 6-15cm, rộng 2,5-6cm, cuống ngắn. Lá kèn mỏng ôm sát vào thân. Hoa nhỏ tập trung thành tán ở đầu cành, lúc mới nở màu trắng, sau hơi vàng; tràng hoa liền ở phía dưới thành ống ngắn. Quả hình cầu có cuống riêng rẽ, khi chín màu đỏ. Mùa hoa tháng 5-6, mùa quả tháng 7-10. Thập kỷ 70, mỗi năm ta thu mua hàng chục tấn ba kích. Hoa nhỏ màu trắng, sau hơi vàng, mọc thành tán ở nách là và đầu cành. Quả tròn, khi chín màu đỏ.
        Phân bổ : Cây mọc hoang ở ven rừng thứ sinh, trung du và miền núi, cũng được trồng ở nhiều nơi bằng rể sau 3 năm có thể thu hoạch củ. Cây mọc hoang ở vùng rừng thứ sinh, trung du và miền núi các tỉnh phía Bắc, dưới tán một số kiểu rừng nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh,nay trở nên thứ sinh gồm cây bụi và dây leo chằng chịt hoặc ở bờ nương rẫy. Độ cao phân bố khoảng 100m so với mặt biển. Càng lên cao cây càng thưa dần, đến độ cao khoảng 100m thì hầu như hiếm gặp. Có nhiều nhất ở cá tỉnh Quảng Ninh, Phú Thọ, Hoà Bình, Hà Giang, Lạng Sơn.      
         Bộ phận dùng : rể (Cũng gọi là củ). Thân cây già cũng được sử dụng. Rễ dùng làm thuốc thường khô, thường được cắt thành từng đoạn ngắn, dài trên 5cm, đường kính khỏang 5mm, có nhiều chỗ đứt để lộ ra lõi nhỏ bên trong.Vỏ ngoài mầu nâu nhạt hoặc hồng nhạt, có vân dọc. Bên trong là thịt mầu hồng hoặc tím, vị hơi ngọt. Khi dùng nên bỏ lỏi vì lõi có công dụng ngược lại với phần thịt.
         Tính vị , tác dụng : Ba kích có vị cay, ngọt, tính ấm, có tác dụng chữa đau khớp, suy nhược. Rễ, củ Ba Kích có tác dụng bào chế thuốc. Lưu ý: Không dùng khi rong kinh, kinh sớm. Người âm hư quá vượng, đại tiện táo bón không nên dùng. Tác dụng của cây ba kích trong việc ngâm rượu có tính hàn nên nếu uống nhiều, đàn ông dễ bị “Tào tháo đuổi”.

        Bào chế Ba kích :  dùng 1 trong 5 cách sau :
        1. Dùng nước Câu Kỷ Tử ngâm Ba Kích 1 đêm cho mềm, lấy ra ngâm rượu 1 đêm, vớt ra, sao với Cúc Hoa cho vàng thuốc, dùng vải lau sạch, để dành dùng.
  2. Ngâm với rượu 1 đêm cho mềm, rút bỏ lõi, xắt nhỏ, sấy khô, để dành dùng.
  3. Dùng Cam Thảo, giã dập, sắc, bỏ bã. Cho Ba Kích vào nấu cho đến khi xốp mềm, rút lõi, phơi khô. Liều lượng: 6kg Cam Thảo cho 100kg Ba Kích.
  4. Diêm Ba Kích: Trộn Ba Kích với nước Muối (20g Muối cho 1kg Ba Kích), cho vào chõ, đồ, rút lõi, phơi khô.
  5. Rửa sạch, ủ mềm, bỏ lõi, thái nhỏ rồi tẩm rượu 2 giờ, sao qua hoặc nấu thành cao lỏng (1ml = 5g).

   Công dụng :
1.   Tăng sức dẻo dai : Đối với những bệnh nhân nam có hoạt động sinh dục không bình thường, Ba Kích có tác dụng làm tăng khả năng giao hợp, đặc biệt đối với những trường hợp giao hợp yếu và thưa. Ba Kích có tác dụng tăng cường sức dẻo dai, mặc dầu nó không làm tăng đòi hỏi tình dục, không thấy có tác dụng kiểu Androgen. Tuy không làm thay đổi tinh dịch đồ nhưng trên thực tế có tác dụng hỗ trợ và cải thiện hoạt động sinh dục cũng như điều trị vô sinh cho những nam giới có trạng thái vô sinh tương đối và suy nhược thể lực. Còn các trường hợp tinh dịch ít, tinh trùng chết nhiều, không có tinh trùng, không xuất tinh
            khi giao hợp thì xử dụng Ba kích chưa thấy kết quả.

  2. Trị liệt dương, ngũ lao, thất thương, ăn nhiều, hạ khí :
  Ba kích thiên, Ngưu tất (sống) đều 3 cân ngâm với 5 lít rượu, 7 ngày sau uống được.

  3. Trị phụ nữ tử cung bị lạnh, kinh nguyệt không đều, xích bạch đới hạ :
  Ba kích 120g, Lương khương 20g, Tử kim đằng 640g, Thanh diêm 80g, Nhục quế (bỏ vỏ) 160g, Ngô thù du 160g. Tán bột. Dùng rượu hồ làm hoàn. Ngày uống 20 hoàn với rượu pha nước muối nhạt.

  4. Trị lưng đau do phong hàn, đi đứng khó khăn
  Ba kích 60g, Ngưu tất 120g, Khương hoạt 60g, Quế tâm 60g, Ngũ gia bì 60g, Đỗ trọng (bỏ vỏ, sao hơi vàng) 80g, Can khương (bào) 60g. Tán bột, trộn mật làm hoàn, uống với rượu ấm.

  5. Trị tiểu nhiều :
  Ích trí nhân, Ba kích thiên (bỏ lõi), 2 vị chưng với rượu và muối, Tang phiêu tiêu, Thỏ ty tử (chưngvới rượu). Lượng bằng nhau. Tán bột. Dùng rượu chưng hồ làm hoàn to bằng hạt bắp lớn, mỗi lần uống 12 viên với rượu pha muối hoặc sắc thành thang uống với nước muối.

  6. Trị bạch trọc :
  Thỏ ty tử (chưng rượu 1 ngày, sấy khô), Ba kích (bỏ lõi, chưng rượu), Phá cố chỉ (sao), Lộc nhung, Sơn dược, Xích thạch chi, Ngũ vị tử đều 40g. Tán bột, Dùng rượu hồ làm hoàn, uống lúc đói với nước pha rượu.

7. Trị bụng đau, tiểu không tự chủ :
  Ba kích (bỏ lõi), Nhục thung dung, Sinh địa đều 60g, Tang phiêu tiêu, Thỏ ty tử, Sơn dược, Tục đoạn đều 40g, Sơn thù du, Phụ tử (chế), Long cốt, Quan quế, Ngũ vị tử đều 20g, Viễn chí 16g, Đỗ trọng (ngâm rượu, sao) 12g, Lộc nhung 4g. Tán bột, làm hoàn 10g. Ngày uống 2-3 hoàn.

  8. Trị mạch yếu, mặt trắng nhạt, buồn sầu la khóc :
  Ba kích (bỏ lõi), Hồi hương (sao), Nhục thung dung (tẩm rượu), Bạch long cốt, Ích trí nhân, Phúc bồn tử, Bạch truật, Mẫu lệ, Thỏ ty tử, Cốt toái bổ (bỏ lông), Nhân sâm đều 40g. Tán bột, ngày uống 2 lần, mỗi lần 10-20g.

  9. Trị Thận bị hư hàn, lưng và gối đau, liệt dương, tiểu nhiều, không muốn ăn uống, xương khớp yếu, đứng ngồi không có sức, bàng quang bị yếu lạnh, vùng rốn và bụng đầy trướng :
  Ba kích 30g, Bạch linh 22g, Chỉ xác 22g, Hoàng kỳ 22g, Lộc nhung 30g, Mẫu đơn 22g, Mộc hương 22g, Ngưu tất 22g, Nhân sâm22g, Nhục thung dung30g, Phụ tử30g, Phúc bồn tử 22g, Quế tâm 22g, Sơn thù 22g, Tân lang 22g, Thạch hộc 30g, Thục địa 30g, Thự dự 22g, Tiên linh tỳ 22g, Ba kích 22g, Tục đọan 22g Viễn chí 22g, Xà sàng tử 22g. Tán bột, hoà mật làm hoàn. Ngày uống 16 - 20g với rượu nóng, lúc đói.

  10. Trị thận bị hư lao, lưng và chân đau, chảy nước mắt sống, hoảng sợ, khát, ăn uống không tiêu, bụng ngực thường đầy trướng, tay chân tê đau, nôn ra nước chua, bụng dưới lạnh đau, tiểu són, táo bón :
  Ba kích 30g, Bá tử nhân22g, Bạch linh 22g, Đỗ trọng 22g, Ngũ gia bì 22g, Ngưu tất 22g, Nhục thung dung 30g, Phòng phong 22g, Phúc bồn tử 22g, Thạch hộc 22g, Thạch long nhục 22g, Thạch nam 22g, Thiên hùng 30g, Thiên môn 40g, Thỏ ty tử 30g, Thục địa 30g, Thự dự 22g, Trầm hương 30g, Tục đoạn 30g, Tỳ giải 22g, Viễn chí 22g, Xà sàng tử 22g. Tán bột, trộn mật làm hoàn, ngày uống 16 -20g với rượu nóng, lúc đói.

  11. Trị nguyên khí bị hư thoát, mặt xạm đen, miệng khô, lưởi dính, hay mơ, hoảng sợ, chảy nước mắt sống, tai ù như ve kêu lưng nặng, đau, các khớp xương đau nhức, âm hư, ra mồ hôi trộm tay chân không có sức, tử cung bị lạnh, kinh nguyệt không đều xích bạch đới hạ :
  Ba kích 90g, Lương khương 180g, Ngô thù 120g, Nhục quế 120g, Thanh diêm 60g, Tử kim đằng 500g.Tán bột, trộn với rượu nếp làm hoàn. Ngày uống 16 - 20g với rượu hoà ít muối hoặc nước muối loãng.

  12. Trị liệt dương :
  Ba kích 30g, Đỗ trọng 30g, Ích trí nhân 30g, Ngũ vị tử 30g, Ngưu tất 30g, Nhục thung dung 60g, Phục linh 30g, Sơn dược 30g, Sơn thù 30g, Thỏ ty tử 30g, Tục đoạn 30g, Viễn chí30g, Xà sàng tử 30g. Tán bột. Luyện mật làm hoàn, ngày uống 12 - 16 g với rượu, lúc đói.

  13. Trị bụng ứ kết lạnh đau, lưng đau, gối mỏi, 2 chân yếu, khớp xương đau, chuột rút, thận hư, liệt dương :
  Ba kích 18g, Đương quy 20g, Khương hoạt 27g, Ngưu tất 18g,Sinh khương27g, Thạch hộc 18g, Hồ tiêu 2g.Tất cả giã nát, cho vào bình, thêm 2 lít rượu vào, đậy kín, bắc lên bếp, nấu 1 giờ, sau đó ngâm trong nước lạnh cho nguội. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 15-20ml.

  14. Bổ thận, tráng dương, tăng trưởng cơ nhục, dưỡng sắc đẹp :
  Ba kích (bỏ lõi )60g, Cam cúc hoa 60g, Câu kỷ tử 30g, Phụ tử (chế) 20g, Thục địa 46g, Thục tiêu 30g. Tán bột, cho vào bình, ngâm với 3 lít rượu trong 7 ngày. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 15 -20ml, lúc đói.

  15. Trị sán khí do Thận hư :
  Ba kích thiên +Hoàng bá +Quất hạch +Lệ chi hạch + Ngưu tất +Tỳ giải +Mộc qua +Kim linh tử +Hoài sơn +Địa hoàng lượng bằng nhau. Sắc uống hay ngâm rượu.

  16. Trị mộng tinh :
  Ba kích thiên + Bá tử nhân + Hoàng bá + Liên tu + Lộc giác + Phúc bồn tử + Thiên môn + Viễn chí, lượng bằng nhau. Sắc uống hoặc tán mịn dùng bột hay làm hoàn uống.

  17. Trị liệt dương, di tinh, tiết tinh do Thận dương hư :
   Ba kích, Thỏ ty tử, Nhục thung dung 3 vị bằng nhau. Sắc uống

  18. Trị tiểu nhiều, tiểu không tự chủ do Thận dương hư :
   Ba Kích, Bổ cốt chỉ, Phúc bồn tử 3 vị bằng nhau. Sắc uống.

  19. Trị gân cơ sưng đau, gân cơ suy yếu, teo cơ, khớp đau mạn tính do Thận hư :
   Đỗ trọng, Ngưu tất, Tục Đoạn 3 vị bằng nhau. Sắc uống.

  20. Trị liệt dương, tảo tinh, tiết tinh, lưng đau, vô sinh (ở nữ) do Thận dương hư :
   Ba kích thiên 12g, Ngũ vị tử 6g, Nhân sâm 8g, Thục
địa 16g, Nhục thung dung, Long cốt, Cốt toái bổ đều 12g. Tán bột, trộn mật làm hoàn 12g. Ngày uống 2-3 lần.

  21. Trị lưng đau, di tinh, hoạt tinh do Thận hư :
  Ba kích thiên, Đảng sâm, Phúc bồn tử, Thỏ ty tử, Thần khúc đều 12g, Sơn dược 24g. Tán bột, luyện mật làm hoàn. Mỗi lần uống 12g, ngày 2-3 lần.

  22. Trị người lớn tuổi lưng đau, chân tê, chân yếu, chân mỏi :
  Ba kích thiên, Xuyên tỳ giải, Nhục thung dung, Đỗ trọng, Thỏ ty tử, lượng bằng nhau, Lộc nai 1 bộ. Tán nhuyễn, trộn với mật làm hoàn. Mỗi lầnuống 8g, ngày 2-3 lần với nước ấm.

   23. Trị phong thấp đau nhức, cước khí, phù :
   Ba kích, Đỗ trọng, Ngưu tất, Tục đoạn đều 12g, Tang ký sinh 10g, Sơn thù nhục 8g, Hoài sơn 16g. Sắc uống.

  24. Trị huyết áp cao thời kỳ tiền mãn kinh :
  Ba kích thiên, Tiên mao, Hoàng bá, Dâm dương hoắc, Tri mẫu, Đương qui, mỗi thứ 20 - 28g, sắc uống.

   Tóm lại Ba kích chủ trị thận hư, liệt dương, yếu sinh lý.

  Kiêng kỵ khi dùng ba kích
  +Phúc Bồn Tử làm sứ, ghét Lôi Hoàn, Đan Sâm.
  +Những người bệnh tướng hỏa quá thịnh, âm hư,

hỏa vượng, đại tiện bón, tiểu đỏ, miệng đắng, mắt mờ,mắt đau, bứt rứt, khát nước, cấm dùng.
 +Âm hư, tiết tinh (do hỏa động), tiểu tiện không thông, miệng lưỡi khôtáo bón, kiêng dùng.
 +Âm hư hỏa vượng, cấm dùng.
 +Người âm hư và bệnh tim không dùng.
 + Âm hư hỏa vượng, táo bón, không dùng.

Cây Ba kích

Củ Ba  Kích



CỐI XAY (Giằng xay)

    Mô tả : cây Cối xay còn gọi là cây Giằng xay, thuộc họ Bông. Cây sống hằng năm, mọc thành bụi, cao1-2m, có lông mềm trên toàn thân và các bộ phận của cây. Lá mọc so le, hình tim, mép khía răng. Hoa vàng mọc ở nách lá, có cuống dài bằng cuống lá. Quả gồm tới 20 lá noãn dính nhau nom như cối xay lúa. Hạt hình thận, nhẵn, màu đen nhạt.

   Phân bố - Bộ phận dùng : Cây mọc hoang khá phổ biến ở Việt Nam. Bộ phận dùng toàn cây.

        Tính vị - Tác dụng : Vị hơi ngọt, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, long đờm và lợi tiểu. Hạt có tác dụng kích dục, nhuận tràng và làm dịu kích thích. Nước hãm rể có thế làm giảm sốt. Cây Cối xay là vị thuốc chính điều trị bệnh tai điếc, tai ù, đau tai.

        Công dụng :
        1. Điều trị phù thũng :
§  Thành phần: Rễ thóc lép 12g, lá cối xay 8g.
§  Cách dùng: Thêm 300ml nước. Đun sôi, giữ sôi 30 phút, chia làm 3 lẩn uống trong ngày.

        2. Cối xay điều trị bí tiểu, tiểu rắt, tiểu buốt do thấp nhiệt ( Nước tiểu đỏ ) :
§  Thành phần : Cây cối xay 30g, bông mã đề 20g, rễ cây tranh 20g, râu ngô 12g, cỏ mần trầu 8g, rau má 12g.
§  Cách dùng : Sắc với 1 lít nước, sắc còn 350ml, chia 2
lần, uống trước bữa ăn. Dùng 10 ngày liền là khỏi bệnh.

        3. Làm thuốc hỗ trợ điều trị bệnh xương khớp :
§  Thành phần : Lá cối xay khô 5g, rễ cây xấu hổ 5g, rau muống biển 3g, rễ cỏ xước 3g, cây lạc tiên 3g, lá lốt 3g.
§  Cách dùng : Tất cả thái nhỏ, phơi khô, sắc nước uống thay trà trong ngày. Dùng liên tục 1 tháng.

        4. Hỗ trợ điều trị bệnh trĩ :
§  Thành phần :  Cây cối xay phơi khô 200g
§  Cách dùng : Các vị thuốc sắc đặc còn khoảng 1 chén nước để uống sau bữa ăn, phần bã thuốc còn lại, đun nóng để xông hậu môn, khi nước còn ấm thì dùng rửa, ngày xông rửa 5-6 lần.

        5. Điều trị vàng da do bệnh gan :
        Lá, thân cây cối xay 30g; nhân trần 30g sắc nước uống trong ngày thay cho nước trà. Dùng liên tục 1 tháng là có hiệu quả.
        6. Cách dùng cây cối xay điều trị tai điếc, tai ù, khiếm thính :
        Cây cối xay (lá, thân khô) 10g đem hầm với 100g thịt lợn nạc để ăn trong ngày. Dùng liên tục khoảng 2 tuần là có hiệu quả.
        Lưu ý:
        Phụ nữ mang thai không nên dùng vị thuốc này.

  
Cây Cối xay, hoa và quả



CHÈ DÂY
        Mô tả : Dây leo, cành hình trụ mảnh, tua cuốn đối diện với lá, chia 2-3 nhánh. Lá hai lần kép, mang 7-12 lá chét mỏng, giòn, mép có răng thấp, gân bên 4-5 đôi, lá kèm gần tròn, dạng vảy. Ngù hoa đối diện với lá có 3-4 nhánh, nụ hoa hình trứng, hoa mẫu 5. Quả mọng hình trái xoan, to 5x6mm, màu đen, chứa 3-4 hạt.

        Phân bổ : Khắp vùng núi ở nước ta.

        Bộ phận dùng : Toàn cây.

        Tính vị - Tác dụng : Vị ngọt, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, khư phong thấp, mạnh gân cốt. Rể cây lợi thuỷ tiêu thủng, chỉ thống. Cành và lá Chè dây còn có tác dụng an thần, giảm đau, liền sẹo. Chè dây chủ trị chữa đau dạ dày.

        Công dụng : Dân gian dùng chữa các bệnh liên quan đến dạ dày : ợ chua, ợ hơi, đau rát thượng vị, và làm thuốc an thần gây ngủ. Hiện nay mọi người biết đến Chè dây như là vị thuốc chữa viêm loét dạ dày, hành tá tràng có hiệu quả cao, không gây tác dụng phụ, không gây ngộ độc cấp tính.

        Một số bài thuốc :

        1. Tác dụng diệt trừ vi khuẩn HP :
Là một loại xoắn khuẩn tồn tại trong 80% dân số Việt Nam, lây qua đường ăn uống, nước bọt, dùng chung bát đũa...trong đa số người khoẻ mạnh xoắn khuẩn HP tồn tại hoà bình với các vi khuẩn khác, nhưng với người bị đau dạ dày xoắn khuẩn này lại là một vi khuẩn cực kì nguy hiểm. Do tác dụng gây viêm, làm vết loét lâu liền, gây biến đổi tế bào có thể dẫn tới ung thư dạ dày. Xoắn khuẩn HP gây tác động xấu, khiến bệnh dạ dày lâu khỏi và vết loét trở nên nặng hơn do bị nhiễm khuẩn. Việc điều trị căn bệnh dạ dày hướng tới trước tiên là tiệt trừ loại xoắn khuẩn này. Tuy vậy các phương thuốc kháng sinh gặp nhiều trường hợp kháng thuốc, gây mệt mỏi cho người bệnh mà không hiệu quả. Chè Dây với hoạt tính kháng sinh tự nhiên, là một giải pháp hữu hiệu trong trường hợp này. Với cơ chế làm sạch và diệt khuẩn. Khi sử dụng Chè Dây vi khuẩn sẽ bị tẩy sạch khỏi niêm mạc dạ dày và cơ chế diệt khuẩn khiến loại khuẩn này chết dần và bị loại bỏ.

       2. Kháng viêm, làm liền vết loét : 
Vết loét dạ dày sau một thời gian dài không điều trị trở nên viêm tấy, trợt và rất khó lành. Với hoạt chất flavonoid có tác dụng giảm viêm mạnh, do đó vết loét trở nên se lại và bớt viêm nhiễm. Từ đó vết loét sẽ liền trở lại. Qua thực tế nghiên cứu cho thấy trên 50% bệnh nhân đã liền vết loét trong 6 tháng sử dụng và điều trị. Thể hiện một sự hiệu quả tuyệt vời so với các loại thuốc khác trên thị trường khi mà tỉ lệ trung bình này chỉ từ 20-30% trên bệnh nhân được điều trị.

        3. Chè Dây có tác dụng an thần, chống mất ngủ và giải độc gan:
        Thực tế cho thấy việc điều trị bệnh dạ dày gặp nhiều khó khăn, do cơ chế bệnh xuất phát nhiều từ nguyên nhân làm việc căng thẳng khiến mất ngủ và stress, Từ đó bệnh càng diễn biến nặng và khó điều trị. Ngoài ra do các loại thuốc tây có cơ chế đào thải qua gan mạnh, nên việc sử dụng lâu dài khiến bệnh nhân mệt mỏi, hại gan thận. Là một loại thảo dược tự nhiên, Chè Dây ngoài cơ chế chữa bệnh thì còn giúp ích cho quá trình đào thải chất độc qua gan, giúp bệnh nhân an thần, dễ ngủ, giảm stress. Do đó Chè Dây có thể sử dụng hỗ trợ với các loại thuốc khác hoặc độc lập mà không gây bất kì tác dụng phụ hoặc có hại nào.

        4. Chè Dây có tác dụng trung hoà dịch vị :
         Lượng axit tiết ra quá nhiều, khiến bệnh nhân bị đau dạ dày thường xuyên ợ chua nóng ở cổ, đau bụng âm ỉ, râm ran do tính chất kiềm, Chè Dây có tác dụng mạnh trong việc trung hoà lượng dịch vị này. Do đó giúp ích trong quá trình liền sẹo và hạn chế lượng axit dư thừa trong dạ dày.

        Bài thuốc chữa đau dạ dày, hành tá tràng, HP, trào ngược dạ dày hiệu quả :
1.   Chè dây khô       20g,
2.   Dạ cẩm khô        20g,
3.   Lá Khôi tía tươi  20g,
4.   Lá Cần sen khô   15g.
        Sắc nước 1 với 6 chén nước sôi còn 1 chén, sắc nước 2 với 6 chén nước sôi còn 8 phân. Hai nước hoà chung chia 2 uống 2 lần trong ngày trước bữa ăn chính.
         Uống liên tục cho đến khi hết bệnh, thường là từ 2-3 tháng.
        Bài thuốc nầy Nguyên Chương đã chữa cho nhiều người lành hẵn bệnh, không tái phát.

Chè dây
       

HOẮC HƯƠNG
(Quảng hoắc hương)

         Mô tả : Cây thảo sống lâu năm, cao 30-60cm. Thân vuông, màu nâu, có lông dày mịn. Lá mọc đối, phiến lá hình trứng, mép có răng cưa to, có lông ở cả hai mặt. Hoa màu hồng, tím nhạt, mọc thành bông ở nách lá hay ở ngọn cành. Quả bế, có hạt cứng.

        Phân bố : Cây mọc nhiều nơi ở nước ta. Trồng bằng hạt hoặc dâm cành vào mùa xuân. Ưa bóng râm và ẩm, nhất là lúc cong non. Có thể trồng trong chậu làm cảnh.

        Bộ phận dùng : phần trên mặt đất, thu hái quanh năm, chủ yếu là trước khi ra hoa.

        Tính vị - Tác dụng : Hoắc hương có vị cay, mùi thơm hắc, tính hơi ấm, có tác dụng làm mạng dạ dày và ruột, giúp sự tiêu hoá, hành khí, giảm đau. Lá có tác dụng hạ nhiệt.

        Công dụng : Thường dùng để chữa cảm mạo, say nắng, ngực bụng trướng đau, viêm mũi mãn tính, mẩn ngứa.

         1. Trị cảm cúm, nhức đầu, mệt mỏi : Hoắc hương, Kinh giới, Tía tô, Ngãi cứu, Hương nhu, các vị bằng nhau. Sắc nước uống ngày hai lần.

2.   Ho : Hoắc hương, lá chanh, Chua me đất, Cam thoả đất ba vị bằng nhau, 5 lác Gừng sống. Sắc nước uống ngày hai lần.

        3. Ăn uống không tiêu, sôi bụng : Hoắc hương, Thạch xương bồ, hoa Sứ ba vị bằng nhau, vỏ Bưỡi sao cháy 6g. Tất cả giã mịn, trộn đều. Uống ngày 3 lần trước bữa ăn nửa giờ, mỗi lần 2 muỗng cà phê với nước nóng.

  4. Trị nội thương sinh lạnh và ngoại cảm thương hàn trong mùa hè, xuất hiện đau đầu sốt lạnh, tức ngực, bụng đầy, tiêu chảy :
Hoắc hương 12g, Đại phúc bì 12g, Bạch chỉ 8g, Phục linh 12g, Tửtô 8g, Trần bì 6g, Hậu phác 8g, Cát cánh 8g, Khương bán hạ 12g, Cam thảo 4g, Sinh khương 8g, Đại táo 12g. Sắc uống.

  5. Trị hoắc loạn thổ tả gần chết, uống vào thì có thể sống lại :
Hoắc hương diệp, Trần bì, mỗi vị 20g, cho vào 2 bát nước, sắc lấy 1 bát uống lúc nóng.

  6. Trị cảm nắng, thổ tả :
  Hoạt thạch (sao) 80g, Hoắc hương 8g, Định hương 2g. Tán bột, mỗi lần uống 8g với nước vo gạo.

  7. Trị thai động không yên, khí không lên xuống, nôn ra nước chua :
  Hương phụ, Hoắc hương, Cam thảo mỗi vị 8g, tán bột. Mỗi lần dùng 4g, thêm ít muối vào, uống với nước sôi.

  8. Trị miệng hôi :
  Sắc lấy nước Hoắc hương súc miệng thường xuyên.

  9. Trị xông pha nơi có nhiều sương mù, sinh ra lở loét :
  Hoắc hương, Tế trà, hai vị bằng nhau, đốt thành tro, trộn với dầu, để trên lá, đắp vào nơi đau.

  10. Trị hoắc loạn :
   Hoắc hương, Súc sa mật, Sao diêm (muối rang).

  11. Trị hoắc loạn, thổ tả, vọp bẻ :
  Hoắc hương, Nhân sâm, Quật bì, Mộc qua, Phục linh, Súc sa mật.

  12. Trị trúng phải khí ác, đau bụng như thắt :
  Hoắc hương, Mộc hương, Trầm thủy hương, Nhũ
hương, Súc sa mật.

  13. Trị tự nhiên trúng phải hàn tà, nôn nghịch liên tục :
  Hoắc hương, Mộc hương, Đinh hương, Tử tô diệp, Nhân sâm, Sinh khương.

  14. Trị thương thử vào mùa hè thu, ngực tức, chóng mặt, muốn nôn, trong miệng nhớt dẻo, không muốn ăn uống :
  Hoắc hương, Bội lan, mỗi thứ12g. Sắc uống.

  15. Trị ho, hàn thấp trở trệ bên trong, vị khí mất chức năng giáng xuống, bụng đầy tức, ăn ít, nôn mửa :
  Hoắc hương diệp 12g, Bán hạ (chế) 12g, Đinh hương 2g, Trần bì 12g, sắc uống.




  16. Trị viêm trường vị cấp tính thuộc hàn thấp :
  Hoắc hương, Bán hạ (chế), mỗi thứ 12g, Thương truật, Trần bì, mỗi thứ 8g. Sắc uống.

  17. Trị đầy tức bụng và vùng vị quản, nôn mửa không muốn ăn:
  Hoắc hương diệp 12g, Trần bì 6g, Đảng sâm 12g, Bán hạ 6g, Xích phục linh 12g, Thương truật 12g, Hậu phác 12g, Cam thảo 4g, Sinh khương 3 lát. Sắc uống nóng.

  18. Trị tỳ vị khí trệ, bụng đầy, vùng trung quản đầy:
  Hoắc hương 12g, Sa nhân 6g, Hậu phác 12g, Trần bì 4g, Thanh mộc hương 12g, Chỉ thực 12g. Sắc uống.

  19. Trị mũi viêm mạn tính:
  Dùng Hoắc hương 160g, tán bột, trộn mật heo làm viên. Mỗi lần uống 4g với nước, ngày 2 lần, liên tục 2-4 tuần.

        Chú ý : Người huyết áp cao, cơ thể gầy yếu, mất ngủ, đại tiểu tiện khó không nên dùng Hoắc hương.

Cây Hoắc hương




NGẢI RỢM (râu hùm)
        Mô tả : còn gọi là Phá lúa, Hạ túc, thuộc họ Râu hùm. Cây thảo có thân rể hình trụ dài hơn 10cm, có nhiều rể. Lá thuôn, chóp nhọn dài hình đuôi, gốc thắt nhọn, dài 35-40cm, rộng 6-15cm, mặt trên màu lục sẫm, mặt dưới màu lục nhạt, cuống ngắn. Cụm hoa là tán trên một cán hoa dài, nhẵn, màu lục sẫm tía ; bao chung gồm các lá bắc gần như nhau ; lá bắc con hình sợi, dài. Quả thuôn, dài 2cm, có cạnh dọc biến thành cánh.

        Phân bố : Cây mọc nơi đát ẩm ven suối, dưới tán rừng kín thường xanh hay xen tre nứa. Khắp vùng núi nước ta đều có.

        Bộ phận dùng : Toàn cây, dùng nhiều nhất là thân và rể phơi khô, thân cao như cây sắn, sau 6-7 năm mới có.

        Tính vị - Tác dụng : vị đắng, tính mát. Có tác dụng lý khí, chỉ thống, khư ứ, sinh tân, tiệt ngược. Cây Ngải trồng sau 6-7 năm thân sẽ cao như cây sắn (xem ảnh hình 2, cây có màu vàng ẩn sau chòm lá).

        Công dụng : Cây được dùng chữa kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh, tắt kinh, sốt rét, viêm dạ dày, hành tá tràng, sưng hầu họng, dùng ngoài trị mụn nhọt, lở ngứa. Rể xắc nhỏ phơi khô để dành.

        Một số bài thuốc :
3.   Kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh, tắc kinh : Mỗi ngày dùng 10-15g lá và rể Ngải rợm sắc uống.

4.   Sau khi sanh huyết ra ngông cầm : Dùng 10-20g rể sắc uống.
        Phụ nữ dân tộc thường sinh xong nấu rể uống sau 3 ngày đi rẫy bình thường.

5.   Vết thương nặng, hay nhiễm trùng, chùm bao, mạch lươn : Lấy thân cây Ngải cắt ra từng đoạn dài bằng vết thương, đem nướng trên lửa than cho cháy vỏ ngoài, cạo bỏ vỏ rửa sạch, dùng cái chai đã sát trùng cán mỏng rồi đắp lên vết thương. Ngày 1 lần, đắp liên tục 5-7 ngày vết thương sẽ khô và lành hẵn. Thân cây Ngải khi nướng chín mềm như củ sắn nấu vậy.
        4. Viêm dạ dày, hành tá tràng : Lá Ngải rợm 20g, sắc nước đậm uống ngày 2 lần sau bữa ăn chính.
        5. Sưng hầu họng : Rể hoặc thân cây Ngải rợm sắc đậm ngậm và súc ngày 3 lần, mỗi lần 10-15 phút.

 Hoa Ngải rợm (H.1)


Cây Ngải rợm (H.2)



SỐNG ĐỜI
(Lụp bụp, thuốc bỏng, Lạc địa sinh căn)

        Mô tả : Cây thảo cao cở 40-60cm. Thân tròn, nhẵn, mọng nước, có đốm tía. Lá mọc đối chữ thập, đơn hoặc gồm 3-4 lá chét dày, mép lá khía răng cưa tròn, giữa mép màu đen tím là nơi cây non nhú mầm khi lá đã già. Hoa đỏ hay vàng, cam, mọc thành xim rũ xuống trên một cán dài ở ngọn thân hay ở nách lá.

        Phân bố : Mọc hoang ở khắp nơi. Người ta còn trồng trong chậu kiểng để làm cảnh, vì lá và hoa đẹp.

        Bộ phận dùng : Toàn cây, nhưng phần nhiều dùng lá là chính.

        Tính vị, tác dụng : Vị nhạt, hới chua, chát, tính hàn, có tác dụng tiêu độc, tiêu thủng, hoạt huyết, chỉ thống, bạt độc, sinh cơ, lương huyết, chỉ huyết.

        Công dụng :
        1. Chữa bệnh trĩ nội : Mỗi ngày dùng 10 lá (sáng ăn 4 lá, chiều ăn 4 lá, tối 2 lá) nuốt bớt nước, bã bỏ vào gạc vải đắp vào hậu môn (đóng khố như phụ nữ thấy kinh). Nhớ trước khi đắp thuốc phải làm vệ sinh hậu môn bằng nước pha muối. Cứ làm theo cách trên, tùy bệnh nặng nhẹ, dùng từ 20-45 ngày đều khỏi.
        2. Giảm đau lưng, đau xương khớp : Làm mềm lá Sống đời theo cách hơ nóng, đắp lá bỏng lên vùng bị đau
khi còn nóng. Nếu cần di chuyển thì có thể dùng khăn quấn lá bỏng xung quanh vùng bị đau để giữ ấm trong ngày.
        3. Ðau mắt đỏ và đau mắt hột : Trước khi ngủ, đánh răng, nạo lưỡi sạch, nhai 3 lá Sống đời, mút bớt nước, đặt bã vào gạc vải (vô trùng) đắp vào mắt buộc chặt, sáng tháo ra, rửa mắt bằng nước pha muối. Làm như trên 3 ngày liền sẽ khỏi.
        4. Chữa chứng viêm xoang mũi : Lấy 2 lá Sống đời rửa sạch, giã nát, lấy bông thấm nước thuốc nhỏ vào lỗ mũi. Hoặc mỗi lần nhai 2 lá, lấy nước nhai lá bỏng thấm vào bông, nhỏ vào lỗ mũi bên viêm ngày 4,5 lần sẽ khỏi (Nếu viêm cả 2 bên thì sáng nhỏ một bên chiều nhỏ
một bên). Lưu ý, bệnh nhân trước khi nhai lá bỏng phải đánh răng, nạo lưỡi, súc miệng 2, 3 lần cho sạch miệng mới nhai.
        5. Trị viêm họng : Lá Sống đời rửa thật sạch, ăn sống lá, nếu khó nuốt có thể nhai nuốt lấy nước bỏ bã. Nên ăn lá cây Sống đời nhiều lần trong ngày, chỉ sau 2-3 ngày có thể khỏi ngay bệnh viêm họng mà không cần phải đến bệnh viện hoặc sử dụng các loại thuốc tây.
        6. Chữa trị bỏng : Đối với những vết bỏng nhẹ, những vết bỏng không ăn sâu vào da thịt có thể dùng cây Sống đời chữa bỏng rất tốt. Để trị bỏng, dùng lá cây Sống đời rửa sạch, đắp lên vùng bị bỏng, một ngày nên làm từ 2-3 lần để kéo lại da non nhanh chóng.
        7. Chữa chứng đại tiện ra máu : Lấy 30g lá Sống đời, 10g cỏ Nhọ nồi, 10g Ngải cứu (sao cháy), 10g lá Trắc bá (sao cháy) sắc lấy nước uống ngày 1 thang.
        8. Chữa bệnh kiết lỵ, viêm đại tràng : Ngày ăn 20 lá Sống đời (buổi sáng 8 lá, chiều 8 lá, tối 4 lá). Từ 5-10 tuổi ăn bằng 1/2 người lớn. Ăn 5 ngày là khỏi.
        9. Chữa nhức đầu : Nướng lá Sống đời trong lò vi sóng hoặc trên bếp lửa vài giây cho lá bỏng nóng lên và mềm ra. Sau đó đắp lên trán khi lá vẫn còn đang nóng.
        10. Chữa viêm tai cấp tính : Dùng nước cốt lá cây Sống đời, nhỏ trực tiếp vào tai, ngày nên làm 2 lần sẽ cho hiệu quả nhanh chóng.
        11. Chữa tắt sữa : cây lá Sống đời đặc biệt rất tốt cho phụ nữ sau khi sinh, ăn sống hoặc có thế dùng lá cây Sống đời nấu canh sẽ giúp người mẹ có nhiều sữa cho con bú, hạn chế được sự mất sữa của mẹ sau khi sinh con.
        12. Làm đẹp da : Lá cây Sống đời có chứa nhiều nước lành tính, rất tốt cho việc làm dịu mát da, đặc biệt các vùng da bị cháy nắng. Mặt nạ lá Sống đời sẽ giúp làn da trắng mịn, xóa tan sạm nắng hiệu quả. Có thể thực hiện bằng các cách dưới đây :
        - Làm đẹp với cây Sống đời rất đơn giản, chỉ cần chọn một lượng cây Sống đời vừa đủ dùng, sau đó rửa sạch, giã nát đắp lên mặt khoảng 15-20 phút rồi rửa sạch mặt với nước lạnh. Đắp 2-3 lần/tuần sẽ cảm nhận được sự dịu mát và làn da mịn màng, sạch mụn.
        - Ngoài ra, cũng có thể giã nát cây Sống đời cùng với mấy hạt muối tinh để đắp trong vòng 7-10 phút. Mặt nạ này ngoài tác dụng làm dịu da còn có tác dụng se khít lỗ chân lông.
        - Nên kết hợp đắp mặt nạ cây Sống đời và dùng kem dưỡng da để đạt hiệu quả tốt, nhất là trong thời tiết nắng nóng.
        Không chỉ là loài cây chữa bệnh, cây Sống đời còn được xem là cây cảnh mang nhiều ý nghĩa phong thủy tốt cho gia đình nữa đấy nhé!


Cây Sống đời


Cây Sống đời làm cảnh



  (HẾT TẬP 3)
                                                                                Phú Ninh – Quảng Nam
                                                                                   Tháng 4 năm 2017
                                                                                  NGUYÊN CHƯƠNG


TÀI LIỆU THAM KHẢO
      - Bộ sách Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của Giáo sư Tiến sĩ Đỗ Tất Lợi,
      - Bộ Tự điển Cây thuốc Việt Nam (1-2) của Phó tiến sĩ Võ Văn Chi,
      - Trên mạng internet,
      - Tạp chí Số tay y học,
      - Báo Dân trí,
      - Báo Thanh Niên,
      - Báo Tuổi Trẻ,
      - Báo Tuổi trẻ & Đời sống,
      - Báo Khoa học & Đời sống,
      - Báo Luật pháp & Gia đình,
      - Báo Người Lao động,
      - Báo Tiền phong,
      - Báo An ninh Thủ đô,
      - Báo An ninh thế giới,
      - Báo Đà Nẵng điện tử…

Hoa Sâm bố chính
*****
***
*



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét