Tìm hiểu
ĐẠT MA
DỊCH CÂN KINH
PHÁP CHỮA BỆNH
CỦA THIỀN TÔNG
NGUYÊN CHƯƠNG
Biên soạn
(tham khảo từ internet)
TỊNH THẤT NGUYÊN CHƯƠNG
Tổ 2, thôn Khánh An, xã Tam Dân, huyện Phú Ninh
Tỉnh Quảng Nam
Năm 917 (sau Công
nguyên) Bồ-Đề-Đạt-Ma Tổ Sư Thiền tông đời thứ 28 Ấn Độ sang Trung Quốc
truyền giáo pháp Thiền tông. Đã có nhiều giai thoại lý thú trong quá trình
truyền giáo của Ngài. Sau Ngài đến và ở lại núi Trung Sơn thuộc tỉnh Hà
Nam Trung Quốc xây dựng chùa Thiếu
Lâm. Và Ngài trở thành sơ Tổ của Thiền tông Trung Hoa. Có nhiều đệ tử nhập
môn học Phật để mai sau đi truyền giáo theo một pháp môn mới đó là Thiền tông, có khi trái với tín
ngưỡng cũ của người Trung Quốc nên có thể xảy ra xung đột, nên Ngài cho đệ tử
Chùa Thiếu Lâm vừa học lý thuyết Phật giáo, vừa phải luyện võ để tự vệ (phái võ Thiếu Lâm ra đời từ đó và tồn tại
đến ngày nay).
Nhiều người xin nhập môn, nhưng thể
lực kém không luyện võ được. Tổ sư truyền dạy một phương pháp luyện tập tên
gọi là "Đạt Ma Dịch Cân
Kinh" để chuyển biến thể lực của các đệ tử từ yếu thành
khỏe. Cách tập đơn giản, nhưng hiệu lực lớn, vì còn tiêu trừ được bệnh. Ngày
nay, các nhà chuyên môn nghiên cứu sâu phương pháp này thấy chữa được rất
nhiều bệnh, ngay cả một số bệnh ung thư cũng khỏi. Để khẳn định pháp môn nầy
là đúng đắn, người ta đã áp dụng lý thuyết "khí huyết" của Đông y của Trung Quốc để chứng minh.
Tình trạng sức khỏe của con người
liên quan chặt chẽ với "khí
huyết" của mình. Về "huyết"
thì rất rõ ràng và dễ hiểu vì ta nhìn thấy được. Nhưng trong Đông y cái gọi
là "huyết" thì chúng ta không thể tách rời và hạn chế từng mặt. Nếu
như máu loãng hay đặc, hồng cầu nhiều hay ít, sắc tố như thế nào... để mà
nghiên cứu. Họ dùng cách nhìn toàn diện của quá trình sinh lý và quá rình
tuần hoàn của huyết mà xem xét.
Lý luận Đông
y có triết lý vững vàng. Nó mang tính chất khái quát rất cao, khi nó nêu vấn
đề "khí huyết" thì tất
nhiên không cô lập, như lấy một giọt máu không sức sống hoặc một bầu máu tách
rời từ cơ thể, mà là cần phân tích đến trạng thái vận động, quá trình sinh lý
và các mối quan hệ khác.
Về "khí" cũng vậy, người xem
tướng giỏi là người rành xem khí. Sắc là do thiên vị "khí" (prana) có trong khí trời, nếu nó
không lưu thông ra khắp cơ thể được nên mới sinh bệnh. Cho nên các
"khí" của Đông y không bác bỏ cái khí trong không khí mà nó mang
lại một nội dung có tính khái quát rộng lớn hơn.
- Ta thở không khí vào phổi, ăn vào
bụng, ruột hấp thu chất dinh dưỡng, các chất ấy và không khí sau khi được cơ
quan tiêu hóa chế biến sẽ được đưa đến các tế bào của toàn thân, để nó được
oxy hóa và sinh ra nhiệt năng, đồng thời cũng đưa khí bẩn và chất thải từ
thức ăn và các tế bào chết trong cơ thể thu hồi về để bài tiết ra ngoài.
- Tuần hoàn phát huy tác dụng tốt,
thì quá trình sinh lý của cơ thể con người tự nhiên thịnh vượng ra, sinh hoạt
sức khỏe của con người đương nhiên đảm bảo. Cho nên trong lý thuyết "khí
huyết" không thể đơn độc chỉ có “huyết” mà không có "khí" hay
chỉ có "khí" mà không có "huyết", mà cần phải đầy đủ cả
hai.
- Đông y cho rằng máu thuần chủ yếu
trong cơ thể con người là "Âm-Dương" tức là "khí huyết" (Âm là khí, Dương là huyết). Vì thế luyện
tập "Đạt Ma Dịch Cân Kinh"
là làm cho “khí huyết” hoạt động điều hòa nên nó có tác dụng chữa bệnh tốt,
làm cho cơ thể khỏe mạnh.
Người xưa ở
Trung Quốc dùng bài thuốc "Dương tâm đan" kết hợp
với luyện tập "Dịch Cân
Kinh" để chữa khỏi bệnh ung thư. Tác dụng của thuốc là rút ngắn thời
gian điều trị, chứ nó không có tác dụng chữa bệnh, mà luyện tập "Dịch Cân Kinh" là chính. Ta
thử phân tích bệnh ung thư là gì ? Người xưa quan niệm ung nhọt chia ra hai
loại : "Âm thư và Dương thư" nên có câu : "Dương thư dễ
lành, Âm thư khó trị". “Dương
thư” là cái nhọt mọc ra ngoài, chín rồi vỡ, có máu mủ, và mủ xanh, dán cao là
lành. “Âm thư” là cái nhọt mọc bên trong cơ thể, không có đầu, không vỡ, chỉ
to dần rồi lan tràn, có khi rắn như đá gọi là thạch thư. Nguyên nhân đều do
kết tụ của “khí huyết” làm trở tắc kinh lạc mà các phế vật trong cơ thể cần
thải không thải ra được. Vì máu lưu thông chậm nên các chất keo, dịch gan,
các chất làm khô... do không đủ nhiệt năng nên công năng giảm sút không thể
thải được các chất không cần thiết cho cơ thể ra ngoài nên bị ung thư.
Luyện tập "Dịch Cân Kinh" tay vẫy
đúng pháp, miệng dạ dày mở, máu mới sinh ra nhiệt năng đầy đủ. Các sự chèn ép
làm mất thăng bằng trong cơ thể bị xóa bỏ, nên mới khỏi bệnh. Vẫy tay theo "Dịch Cân Kinh" cơ hoành
lên xuống dễ dàng, ruột và dạ dày tiếp được thêm “khí” nên cũng gây nên tác
dụng hưng phấn, và khi chức năng của máu tăng lên thì giúp cho việc thải độc
được tốt hơn. "Khí huyết" thăng bằng là khỏi bệnh.
Nguyên nhân
bệnh ung thư hiện nay trên thế giới Tây y còn đang bàn cãi, ngay cả thuốc "Dương tâm đan" cũng không phải
là thuốc đặc hiệu chữa ung thư, mà là giúp tim hoạt động tốt hơn, để thải
chất độc trong cơ thể của bệnh nhân nhanh hơn mà thôi. Nhưng về nguyên nhân
ung thư thì thuyết "khí huyết" của Đông y đã lập luận rõ ràng. Vì
quá trình sinh lý của con người là một quá trình phát triển, nó mang một nội
dung đấu tranh phức tạp. Giữa cái sống và cái chết, giữa ốm đau và mạnh khỏe,
giữa già sớm và trẻ lâu. Nhưng kết quả của cuộc đấu tranh là do nhân tố nội
tại quyết định, chứ không phải do hoàn cảnh bên ngoài. Đức Phật dạy “bệnh
do tâm sinh” là như vậy. Điều
đó cho ta thấy “khí” quan trọng hơn “huyết” trong pháp chữa bệnh.
Nên xem cơ
thể con người là một chính thể vận động. Trong vận động này lục phủ, ngũ tạng
đều dựa vào nhau (tức là tương sinh),
ức chế lẫn nhau (tức là tương khắc),
nhưng "khí huyết" có tác dụng đến tất cả lục phủ ngũ tạng, cho nên
việc phát sinh bệnh ung thư cũng do "khí huyết" không chu đáo mà
sinh ra. Đông y đã xác định rằng cuộc đấu tranh của cơ thể với bệnh ung thư
là cuộc đấu tranh trong nội bộ cơ thể con người (khí), từ đó mà xây dựng quan điểm cho rằng bệnh ung thư là thứ
bệnh có thể chữa hết được. Bệnh tật do sự trì trệ "khí huyết" mà
ra, việc tập luyện “Dịch cân kinh”
làm cho tăng cường và cân bằng khí huyết để tự chữa bệnh là thế.
Luyện tập "Dịch Cân Kinh" thấy ăn tốt ngủ ngon, đấy là việc phổ
biến, nên đã làm tăng sức khỏe cho các bệnh nhân nói chung. Nó chữa được khá
nhiều bệnh như:
Đông y cho rằng vấn đề cơ bản của
bệnh tật con người là do "khí huyết" (Âm-Dương) mất thăng bằng
mà sinh ra. "Đạt Ma Dịch Cân
Kinh" giải quyết được vấn đề này, nên đối với đa số các loại bệnh,
nhất là bệnh mãn tính đều có thể chữa được.
PHƯƠNG PHÁP LUYỆN TẬP
"ĐẠT MA DỊCH CÂN KINH"
Trước tiên nói về
tư tưởng :
-Phải có hào khí : nghĩa là phải có
quyết tâm tập cho đến nơi và đều đặn, phải vững vàng tin tưởng, không nghe
lời bàn ra nói vào mà chán nản bỏ cuộc.
-Phải lạc quan : không lo sợ bệnh
mà mọi người cho là hiểm nghèo, và bình tỉnh lạc quan tin rằng mình sẽ thắng
bệnh do luyện tập.
-Tư thế đúng : "Trên không dưới có, trên ba dưới bảy" tức là trên giản
dưới căng, là phần trên từ rốn lên để lỏng chỉ độ ba phần khí lực, phần dưới
lấy gắng sức tới bảy phần thể lực, đầu óc thả lỏng không suy nghĩ lung tung,
miệng ngận lại không hoạt động, bụng phải mềm, lưng nên thẳng, thắt lưng mềm
dẻo, hai cánh tay phải vẫy, cùi chỏ thẳng và mềm, cổ tay trầm, lòng bàn tay
quay về phía sau, ngón xòe vừa phải như cái quạt, khi hai tay đưa về phía
trước hay phía sau thì hai bàn tay phải luôn hơi cong ngữa lên, nghĩa là hai
khuỷu tay luôn vận động. Khi vẫy tay lỗ đít phải thót lại, bụng dưới xẹp lại,
gót chân lỏng, hai bàn chân phải vững, các ngón chân bấm chặt vào đất như
đứng trên đất trơn. Đây là những qui định cụ thể của các yêu cầu khi luyện
tập "Đạt Ma Dịch Cân Kinh".
Lấy sức vẫy tay về phía sau, khi tay trở lại phía trước là do quán tính,
tương đương với “sau bảy trước ba”, không dùng sức đưa tay ra phía trước. Mắt
nhìn thẳng vào một điểm cố định và song song với mặt đất, đầu không nghĩ ngợi
gì, chỉ tập trung nhẩm đếm số lần vẫy tay.
CỤ THỂ TƯ THẾ TẬP NHƯ SAU
a.
Hai bàn chân
để xích ra bằng khoảng cách của hai vai.
b.
Hai cánh tay
duỗi thẳng theo vai, các ngón tay xòe thẳng, lòng bàn tay quay về phía sau,
bàn tay hơi cong lên từ khủyu tay.
c.
Bụng dưới
thót lại, lưng thẳng, bụng trên co lên, cổ lỏng, đầu và miệng trong trạng
thái bình thường. Đầu lưỡi để chạm nhẹ vào nếu trên để kết nối âm dương.
d.
Các đầu ngón
chân bám trên mặt đất, gót chân sát đất, bắp chân và đùi căng thẳng.
e.
Hai mắt chọn
một điểm đàng xa để nhìn song song với mặt đất, không nghĩ ngợi lung tung,
chỉ chú ý vào ngón chân bám trên đất và nhẫm đếm số lần vẫy, đùi vế vững
chắc, lỗ đít thót khít lại.
f.
Dùng sức vẫy
tay về phía sau, rồi để hai tay trở hai phía trước theo quán tính, tuyệt đối
không dùng sức.
g.
Vẫy tay từ
300-400-500-600 dần dần lên tới 1.800 lần, ước chừng 30 phút.
h.
Phải có
quyết tâm tập đều đặn, lần vẫy tay dần dần tăng lên không miễn cưỡng vì
"dục tốc bất đạt", nhưng không được giảm số lần vẫy và không tùy
tiện bữa tập nhiều, bữa tập ít hoặc nghỉ vài ngày, trừ trường hợp bị bệnh
nặng, nếu không dễ làm mất lòng tin trong việc luyện tập, như vậy khó có kết
quả.
Bắt đầu
luyện tập cũng không nên dùng tận lực tàm tổn thương các ngón chân (sau buổi tập nên vân vê các đầu ngón
chân, ngón tay, mỗi ngón chín lần). Nôn nóng mong muốn khỏi bênh ngay mà
dùng quá sức cũng không đưa lại kết quả mong muốn. Có quyết tâm, nhưng phải
từ từ thong thả tiến lên mới là đúng cách, sẽ thu được kết quả mỹ mãn. Nếu
tinh thần không tập trung, tư tưởng phân tán, thì khí huyết loạn xạ, và không
chú ý đến "trên nhẹ dưới nặng, trên giản dưới căng" là sai và hỏng.
Khi vẫy tay
từ 600 cái trở lên, thường thường có biểu hiện trung tiện, hắt hơi, hai chân
nhức mỏi, toát mồ hôi, mặt nóng bừng... đấy là hiện tượng bình thường đang
tiến triển, đừng ngại. Trung tiện và hắt hơi là do nhu động của đường ruột
tăng lên, đẩy mạnh cơ năng tiêu hóa. Chân mỏi là do khí huyết dồn xuống cho
hợp với "trên nhẹ dưới nặng". Đây là quy luật của sinh lý hợp với luật
vũ trụ "thiên khinh địa trọng".
Cụ thể như :
Bệnh gan : Do khí
huyết, tạng gan không tốt gây nên khí không thoát, tích lũy, làm cho khó bài
tiết. Đương nhiên là bệnh nan y ảnh hưởng tới cả mật và tì vị. Luyện tập "Dịch Cân Kinh" có thể giải
quyết vấn đề này. Nếu sớm có trung tiện là có kết quả tốt.
Bệnh
mắt : Luyện tập "Dịch Cân Kinh" có thể khỏi
đau mắt đỏ, các chứng đau mắt thông thường, cận thị, thậm chí còn có thể chữa
được cả bệnh đục thủy tinh thể (thong
manh). Trong Nội kinh có nói "mắt nhờ huyết mà nhìn được", khi
khí huyết không dẫn đến bộ phận của mắt thì sinh ra các bệnh về mắt.
NHỮNG PHẢN ỨNG THƯỜNG GẶP
Khi luyện tập "Dịch Cân Kinh" có thể có những phản ứng xảy ra, đều là
hiện tượng thải bệnh không đáng ngại. Xin liệt kể ra đây 34 phản ứng thông
thường hay gặp :
1.
Đau buốt.
2.
Tê dại.
3.
Lạnh.
4.
Nóng.
5.
Đầy hơi.
6.
Sưng.
7.
Ngứa.
8.
Ứa nước
miếng.
9.
Ra mồ hôi.
10. Có cảm giác như kiến bò, kiến cắn.
11. Giật gân, giật thịt.
12. Đau xương, có tiếng kêu lục
cục.
13. Có cảm giác máu chảy dồn dập.
14. Lông, tóc dựng đứng.
15. Âm nang to lên.
16. Lưng đau.
17. Máy mắt, mí mắt giật.
18. Đầu nặng.
19. Hơi thở ra nhiều,
thở dốc.
20. Hảo.
21. Tăng tiện.
22. Gót chân nhức nhối như măng
mủ.
23. Huyết áp biến đổi.
24. Cụm trắng ở lưỡi biến đổi.
25. Da cứng và da dầy rụng đi
26. Sắc mặt biến đổi.
27. Đau mỏi toàn thân.
28. Nôn mửa, ho.
29. Đại tiện ra máu, mủ hoặc phân
đen.
30. Tiểu tiện nhiều.
31. Trên đỉnh đầu mọc mụn.
32. Bệnh từ trong da thịt tiết
ra.
33. Ngứa từng chỗ hay toàn thân.
34. Chảy máu cam.
Các phản ứng
trên là do trọc khí trong người bị bài tiết ra ngoài, loại trừ chất cặn bã ứ
đọng ra khỏi cơ thể, tức là làm giảm bệnh tật. Đó là phản ứng sự xung đột
giữa chánh khí và tà khí, ta vẫn tiếp tục tập thì sẽ sản sinh ra chất bồi bổ
có nhiều ích lợi cho chính khí. Ta luyện tập đúng phép là làm tăng sức đề
kháng, thải cặn bã trong cơ thể mà máu bình thường không thải nổi. Luyện tập "Đạt Ma Dịch Cân Kinh" khí
huyết lưu thông mới thải nổi các cặn bã ra nên sinh ra phản ứng. Vậy ta đừng
sợ, cứ tiếp tục tập như thường, hết một phản ứng là khỏi một căn bệnh, tập
luyện dần đến khi hết phản ứng sẽ đem lại kết quả tốt.
Luyện tập "Đạt Ma Dịch Cân Kinh" đạt được
bốn tiêu chuẩn như sau :
- Nội trung tố : tức là nâng cao can khí lên, là then chốt, điều
chỉnh tạng phủ, lưu thông khí huyết, thanh khí sẽ thông suốt lên tới đỉnh
đầu.
- Tứ trưởng tố : tức là 4 chi (2
tay và 2 chân) phối hợp với động tác theo đúng nguyên tắc khi luyện tập "Đạt ma Dịch Cân Kinh". Tứ
trưởng tố song song với Nội trung tố sẽ làm cho tà khí bài tiết ra ngoài,
trọc khí dằn xuống, cơ năng sinh sản ngày càng mạnh.
- Ngũ tâm
phát : nghĩa là 5 trung tâm của
huyệt dưới đây hoạt động mạnh hơn mức bình thường :
Khi luyện tập "Đạt Dịch Cân Kinh" năm huyệt này đều có phản ứng và
hoàn toàn thông suốt. Nhâm đốc và 12 kinh mạch đều đạt tới hiệu quả phi
thường, nó làm tăng cường sức mạnh cho thân thể tiêu trừ các bệnh nan y mà ta
không ngờ.
-Lục
phủ minh : Lục phủ là 6 bộ phận trong
cơ thể không trì trệ : ruột non, mật, dạ dày, ruột già, bong bóng, tam tiêu. Lục
phủ có nhiệm vụ thâu nạp thức ăn tiêu hóa và bài tiết được thuận lợi, xúc
tiến các cơ năng sinh sản, giữ vững trạng thái bình thường của cơ thể, tức là
âm dương thăng bằng, cơ thể thịnh vượng.
MỘT SỐ ĐIỂM CẦN CHÚ Ý
1.
Số lần vẫy tay không nên ít : từ
300 lần lên dần tới 1.800 lần (khoảng 30
phút) và nhiều hơn nữa mới là toại nguyện cho việc điều trị. Bệnh nhân nặng, có thể ngồi trên
ghế mà vẫy tay, tuy ngồi nhưng phải nhớ thót khít đít lại và bấm 10 đầu ngón
chân xuống đất.
2.
Số buổi tập :
* Buổi sáng trong lành tập mạnh.
* Buổi chiều trước khi ăn tập vừa.
* Buổi tối trước khi ngủ tập nhẹ.
3.
Có thể tập nhiều nhất là bao nhiêu ? Ngưỡng
cửa của thuyên giảm bệnh là 1.800 lần vẫy tay, có bệnh nhân vẫy tới
3.000-6.000 lần. Nếu sau khi tập thấy ăn ngon, ngủ tốt, đại tiểu tiện điều
hòa, tinh thần tỉnh táo, thì chứng tỏ con số ta tập là thích hợp.
4.
Tốc độ vẫy tay : Theo
nguyên tắc thì nên chậm rãi, chứ không nên nhanh quá, bình thường vẫy chậm
vừa thì 1.800 cái hết 30 phút. Vẫy tay tới lúc nửa chừng thường nhanh hơn lúc
ban đầu một chút, đây là 6 động của khí. Khi mới vẫy rộng vòng và chậm một
chút. Khi đã thuần thì vẫy hẹp vòng, người bệnh nhẹ thì nên vẫy nhanh hơn và
dùng sức nhiều, người bệnh nặng thì nên vẫy chậm và hẹp vòng. Vẫy tay nhanh quá làm cho tim đập
nhanh, mà vẫy chậm quá thì không đạt tới mục đích, luyện tập là cần cho mạch
máu lưu thông.
5.
Vẫy tay nên dùng sức nặng hay nhẹ ? Vẫy
tay là môn thể dục chữa bệnh, chứ không phải là môn thể thao khác biệt. Đây
là môn thể dục mềm dẻo, đặc biệt của nó là dùng ý mà không dùng sức. Nhưng
nếu vẫy nhẹ quá cũng không tốt bởi vì bắp vai không được lắc mạnh thì lưng và
ngực cũng không được chuyển động nhiều, tác dụng sẽ giảm đi. Vẫy tay không phải chỉ chuyển động
cánh tay mà phần chính vẫn là chuyển động bắp vai và khuỷu tay. Bệnh phong thấp thì nên dùng mức
"nặng" một chút. Bệnh huyết áp cao thì nên vẫy tay chậm và nhẹ.
Nói tóm lại, phần lớn phải tự mình nắm vững tình trạng,
phân tích những triệu chứng. Sau khi tập, nghe sự nhận xét của mọi người xung
quanh thấy sự chuyển biến của mình, nhanh nhẹn hơn, tươi tỉnh hơn hay là kém
hơn trước khi tập, rồi tự mình suy nghĩ và quyết định cách tập, luôn luôn
tổng kết, trên nguyên tắc là tập thế nào cho người thấy thoải mái và dễ chịu
hơn là đúng, là tốt nhất. Đông y cho rằng động tác nhẹ là bổ ích cho cơ thể, động
tác mạnh (nặng) là loại bỏ các chất
cặn bã có hại trong người. Lý luận này cũng đang được nghiên cứu.
6.
Mức độ vẫy tay : Chỉ
vẫy tay về phía sau dùng sức 7 phần, không vẫy về phía trước, mà do phản xạ
của cánh tay cho là 3 phần.
7.
7. Có cần đếm không ? Đếm không phải chỉ để nhớ mà còn có tác dụng làm cho óc
được bình tĩnh tập trung, tim được trầm tĩnh, có tác dụng làm cho bộ não được
thăng bằng và nghỉ ngơi, chính khí được bồi dưỡng.
8.
Hoàn cảnh vẫy tay : Không
có gì là đặc biệt về hoàn cảnh, tập ở đâu cũng được, trong nhà, ngoài trời,
nhưng nơi nào có không khí trong sạch và yên tĩnh vẫn tốt hơn. Tập trên bải
biển, trên đồi, trên bải cỏ, trong rừng thưa là tốt nhất.
9.
Trước và sau khi tập : Trước khi
tập nên đứng bình tĩnh cho tâm tim được thoải mái yên tĩnh, để chuyển hóa về
sinh lý và tâm lý. Ta có thể làm những động tác nhẹ nhàng thoải mái như trong
môn "khí công", đến khi tập xong cũng nên bình tĩnh mà vo nhẹ 10
đầu ngón chân, 10 đầu ngón tay. Những người không đủ bình tĩnh, cần chú ý tới
điều này. Sau
khi tập cảm thấy ngực và bụng nhẹ nhàng, dễ chịu, hơi thở điều hòa, mắt sáng,
nước miếng ứa ra, đại tiện nhuận, ăn ngon, tinh thần tỉnh táo, bệnh tật bớt
dần, thì đấy là tập đúng. Rất ít khi tập sai, tỉ lệ không tới 1%. Sau khi tập đại đa số đều thấy có
phản ứng, nhưng về hiệu quả thì rất khác nhau, nguyên nhân chính là tư thế
khi tập có thích hợp với thể chất người tập hay không.
10.
Lúc bắt đầu tập nên chú ý đến điểm nào ?
a.
Nửa thân
trên từ rốn lên buông lỏng (thượng hư).
b.
Nửa thân
dưới từ rốn xuốn giữ chắc (hạ thực).
c.
Tay vẫy ra
phía sau có dùng lực (nặng).
d.
Tay vẫy ra
phía trước không dùng sức, để nó đưa tới tự nhiên theo quán tính (nhẹ).
11.
Trạng thái tinh thần lúc tập có liên quan
gì đến hiệu quả không ?
* Hết lòng tin tưởng.
* Kiên quyết tới cùng.
* Tập đủ số nhất định, tập thường xuyên, có thể hiệu quả
rất lớn. Nếu khi tập, khi nghỉ không đủ số nhất định. Lòng còn nghi hoặc, còn
bị động dư luận ngoài, thấy phản ứng đã lo sợ, bỏ tập. Hỏi làm gì có kết quả
tốt.
12.
Vẫy tay sai có sinh
ra bệnh gì không ? Có
thể bệnh do tư thế không đúng và làm sai nguyên tắc, những trường hợp ấy cũng
hãn hữu, như trên đã nói không tới một phần trăm.
13.
Khi tập có phải
kiêng gió, kiêng lạnh không ?
Tránh gió lùa, mùa hè hay mùa đông đều tránh đứng đầu ngọn gió. Thấy lạnh thì
mặc áo ấm vào.
Trên đây là một số tham khảo
tìm hiểu về phương pháp luyện tập “Đạt
Ma Dịch Cân Kinh” để nâng cao sức khỏe, giải trừ bệnh tật. Rất mong mọi
người quan tâm áp dụng hằng ngày nhằm giảm khổ tâm vì những căn bệnh không
mong muốn, trong khi tự ta có thể phòng ngừa được một cách hiệu quả. Kiên
nhẫn là biện pháp tối ưu để luyện tập “Đạt
Ma Dịch Cân Kinh” !
Kính chúc mọi người thành công mỹ mãn
trong tập luyện nếu theo đúng phương pháp đã chỉ dẫn trên.
Nam mô cầu Tiêu tai giải trừ
khổ bệnh Bồ Tát
ma ha tát.
Phú Ninh – Quảng Nam
Tháng
11-2016
(Rằm tháng 10 năm Bính Thân)
NGUYÊN
CHƯƠNG
|
Thứ Tư, 23 tháng 11, 2016
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét