Thứ Hai, 30 tháng 11, 2015




Một số
CÂY THUỐC NAM
Thông dụng

NGUYÊN CHƯƠNG
Sưu tầm

LƯU HÀNH NỘI BỘ
(sách tặng không bán)

TỊNH THẤT NGUYÊN CHƯƠNG
Tổ 2, thôn Khánh An, xã Tam Dân, huyện Phú Ninh,
Tỉnh Quảng Nam

PHÁT HÀNH LẦN THỨ 1 (12-2015)





ĐÔI LỜI TÁC BẠCH

      Mấy năm qua, chúng tôi đã lần lượt phát hành 10 bộ sách mỏng gởi tặng thập phương, gồm 6 tập “Những bài thuốc Nam dân gian hiệu nghiệm” từ số 1 đến số 6, và 4 tập sách đặc biệt : Địa long thần dược cứu mạng; Giấm táo–Mật ong thần dược chữa bệnh, sống lâu; cây Cần sen thần dược chữa bệnh; những phương thuốc thần chữa bệnh ung thư.
      Được sự khuyến khích động viên của quý chư liệt vị, chúng tôi tiếp tục không ngừng sưu tầm nghiên cứu các bài thuốc mới với những vị thuốc dễ tìm để giúp người bệnh khắp nơi có điều kiện chữa bệnh dễ dàng, ít tốn kém nhưng hiệu quả cao. Sưu tầm được bài nào chúng tôi cho chữa thử nghiệm, điều chỉnh liều lượng thuốc đến khi có kết quả tốt. Chúng tôi thường phát hành những bài thuốc hay nhất trên tờ rơi để phục vụ kịp thời nhu cầu chữa những bệnh cấp thời. Khi đủ số lượng chúng tôi sẽ phát hành tập số 7.
      Nay chúng tôi xin giới thiệu tập sách nhỏ “MỘT SỐ CÂY THUỐC NAM THÔNG DỤNG”. Trong mỗi gia đình nên trồng những cây thuốc nầy xem như có một vị thầy thuốc Nam thường trực trong nhà, sẽ tự chữa được những bệnh thường gặp nhất, không cần phải đi xa. Vì trong hoàn cảnh hiện nay, ở nước ta thuốc Nam được xem là vị thuốc hiệu quả nhất được đa số người dân tin dùng, nhất là những người nghèo không đủ điều kiện đến bệnh viện, hay ở quá xa nhà thương, y bác sĩ. Theo kinh nghiệm dân gian, trồng thuốc Nam trên đất tự nhiên dược tính cao hơn trồng trong chậu kiểng, nên nhà nào có đất, nhất là vùng nông thôn, nên tranh thủ trồng cây thuốc Nam, hái phơi khô để dành, để vừa tự chữa bệnh vừa giúp người chung quanh, là việc làm công đức rất thù thắn. Ví như bông Đu đủ đực phối hợp với các vị thuốc khác chữa bệnh ung thư và một số bệnh khác rất hay, nhưng hiện nay tìm rất khó, vì khi gieo giống mọc lên thấy cây đực (là cây thân ốm, lá nhỏ) người ta thường nhổ bỏ đi, chỉ để lại cây cái để lấy quả.

Dù xây chín bậc phù đồ,
Không bằng làm phúc giúp cho một người.

      Mong quý vị đón nhận với sự tin tưởng cao để tiện lợi tham khảo trong việc trồng cây thuốc, chữa bệnh và giúp chúng tôi giới thiệu đến mọi người.
      Mọi ý kiến đóng góp, bổ sung, hay có nhu cầu về sách thuốc do chúng tôi phát hành, xin quí vị vui lòng liên hệ qua số điện thoại : 0983.710.463 – 0908.694563 (Nguyên Chương), địa chỉ : TỊNH THẤT NGUYÊN CHƯƠNG, tổ 2, thôn Khánh An, xã Tam Dân, huyện Phú Ninh, tỉnh, Quảng Nam, chúng tôi sẽ rất hoan hỷ tiếp thu, hoặc gởi sách đến tận nơi kính biếu.
      Nhân đây, xin chân thành cảm ơn Giáo sư Tiến sĩ Đỗ Tất Lợi, Phó tiến sĩ Võ Văn Chi, một số cơ quan báo chí, phương tiện truyền thông, một số tác giả trên mạng internet đã tạo duyên cho chúng tôi trích dẫn một số tài liệu liên quan để thực hiện tập sách nhỏ nầy. Xin hồi hướng tất cả công đức có được đến quý vị và gia đình.
Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật,
Nam Mô Thường Hoan Hỷ Bố Thí BồTát
Ma Ha -Tát.

                                                                   NGUYÊN CHƯƠNG




TÊN CÁC CÂY THUỐC ĐƯỢC SẮP XẾP
THEO MẪU TỰ A-B-C
*****

CÂY  BỒ CÔNG ANH
    Mô tả : Cây Bồ công anh hình như có nguồn gốc từ Mỹ, vì nghe nói các vùng quê ở Mỹ người ta trồng rất nhiều hái làm rau ăn và làm thuốc chữa bệnh. Đến mùa hoa nở phấn hoa bay tản trong không khí, hít phải sẽ bị dị ứng mũi làm hắc hơi sổ mũi.
      Ở Việt Nam có cây Mũi mác tương tự, chất lượng làm thức ăn và làm thuốc cũng không kém gì cây Bồ công anh Mỹ, nên gọi là cây Bồ công anh Việt Nam.

      Phân bố : Bồ công anh được chia làm 4 loại chính :
      - Bồ công anh hoa lam : cây cao 50-100cm, thân phân nhánh, chủ yếu nhập về,
      - Bồ công anh lùn : Lá mọc chùm dưới đất, hoa mọc ở giữa chùm lá,
      - Bồ công anh mũi mác : Cây cao mọc đứng, cao tới 2m, ít phân nhánh, mọc nhiều nơi ở miền núi và trung du nước ta.
      - Bồ công anh Trung hoa : Có chủ yếu ở miền núi phía Bắc nước ta và ở Trung Quốc, Mỹ.

      Bộ phận dùng : Toàn cây.

      Công dụng : Bồ công anh nói chung chữa được các bệnh sau đây :

      1. Chữa mắt đỏ sưng đau : Bồ công anh 40g, Dành dành 20g, sắc với 6 chén nước còn 2 chén, chia 2 uống 2 lần trong ngày.

      2. Chữa rắn, bọ cạp cắn, ong đốt : Bồ công anh tươi giã nát đắp vào vết thương ngày 3 lần.

      3. Chữa đau dạ dày: Lá Bồ công anh khô 20g, lá Khôi 15g, lá Khổ sâm l0g, đổ vào 5 chén nước đun sôi trong vòng 15 phút, thêm đường, chia 3 lần uống trong ngày. Uống liên tục trong vòng 10 ngày. Nghỉ 3 ngày rồi lại uống tiếp tục từng đợt cho đến khi khỏi bệnh.

      4. Chữa lành mụn nhọt, mụn mau vỡ mủ: Lá Bồ công anh tươi phối hợp với lá Phù dung, rể Vông vang hoặc rể Gai, giã đắp ngày vài lần.

      5. Viêm vú cấp tính : Bồ công anh tươi 60g, sắc với 4 chén nước còn 1,5 chén,chia 2 uống ngày 2 lần.

      6. Chữa sưng đau vú : Bồ công anh 120g, Sài đất 80g, lá Quít hôi 40g, sắc với 6 chén nước còn 2 chén, chia 2 uống 2 lần trong ngày.

      7. Chữa ung thư vú : Bài thuốc sau đây đã chữa cho nhiều người lành bệnh : Bồ công anh khô 40g, Hạ khô thảo 35g, Kim ngân hoa 20g. Tất cả sắc nước 1 với 5 chén nước còn 1,5 chén, sắc nước 2 với 5 chén nước còn 1 chén. Hòa chung chia 3 uống 3 lần trong ngày trước 3 bữa ăn chính. Uống liên tục cho đến khi hết bệnh.



Cây Bồ công anh


CÂY CHÓ ĐẺ
      Mô tả : Cây Chó đẻ còn có tên gọi : Răng cưa, Cam kiềm, Rút đất. Tên khoa học Phyllanthus urinaria.
      Cây thảo sống hằng năm hay sống dai, cao 20-30cm, có thân màu đỏ, thường phân nhánh nhiều, nhánh có góc, có cánh. Lá mọc so le, xếp hai dãy sít nhau, do đó nom mỗi nhánh như một lá kép lông chim, mỗi lá có hình bầu dục hay hình xoan ngược, mặt trên màu xanh nhạt, mặt dưới mốc mốc. Hoa mọc ở nách lá, hoa đực mọc ở ngọn cành hoa, hoa cái đơn độc ở gốc cành hoa, tất cả hầu như không cuống hoặc có cuống ngắn. Quả nang hơi đỏ, hình cầu đường kính 2mm, có gai nhỏ, chứa 6 hạt hình tam giác màu chocola nhạt.

      Phân bố : Mọc hoang ở bãi cỏ, đồng ruộng, đất hoang, mọc khắp nơi. Mùa hoa quả tháng 4-10.

      Bộ phận dùng : Toàn cây.

      Công dụng : Cây Chó đẻ có vị ngọt, hơi đắng, tính mát, điều trị các bệnh sau đây :

      1. Bệnh viêm gan B :
      Sắc cây Chó đẻ lấy nước uống hằng ngày thay nước. Sau khoảng 4-5 tháng điều trị, bệnh nhân đã giảm hoặc mất đi các triệu chứng lâm sàn có ở viêm gan B, đồng thời phục hồi chức năng gan một cách đáng kể. Chữa men gan tăng cao, máu nhiễm mỡ, gan nhiễm mỡ,  trợ giúp tiêu hóa, giúp giải nhiệt, giải độc gan do rượu bia.
      2. Bảo vệ và phục hồi chức năng gan :
      Cây Chó đẻ có tác dụng rất tốt trong việc kháng virus viêm gan B và ngăn ngừa được bệnh. Vì thế, với những ai mới được phỏng đoán bị viêm gan giai đoạn đầu, hoặc dòng họ có người bị bệnh gan và lo sợ mình cũng sẽ mắc bệnh, thì nên uống cây Chó đẻ hằng ngày càng sớm càng tốt để ngăn ngừa bệnh gan hoành hành.

      3. Giảm béo hiệu quả :
      Bên cạnh tác dụng trị bệnh gan, khi kết hợp cây thảo dược này với lá Sen còn đem lại tác dụng hiệu quả trong việc giảm cân rất hiệu quả, bằng cách nấu nước uống hằng ngày thay nước.

      Ngoài ra, cây Chó đẻ còn chữa những bệnh nặng như: vàng da, bệnh lậu, viêm đại tràng, viêm phế quản, viêm âm đạo, u đau đớn kéo dài,... Và cả những bệnh nhẹ như: hen, sốt li bì, viêm họng, ăn khó tiêu,...Không những thế, cây còn có thể sử dụng để đắp, chữa tại chỗ cho các bệnh ngoài da như: lở loét, ngứa ngáy, sưng hoặc phù nề. Và còn được coi là dược phẩm tốt cho việc lợi tiểu, tiêu độc, sát trùng, tồn ứ, thông huyết, điều kinh, hạ nhiệt,...

ĐƠN THUỐC CÓ CÂY CHÓ ĐẺ
      1. Nhọt độc, sưng đau :
      Một nắm cây Chó đẻ rửa sạch, giã nhỏ với một ít muối sống, thêm vào một ít nước sôi để nguội trộn đều rồi vắt lấy nước uống, còn xác đắp vào chỗ vết thương ngày một lần.

      2. Bị thương, đứt chảy máu :
      Cây Chó đẻ rửa sạch, giã nhỏ với ít muối sống đắp vào chỗ đau ngày một lần.

      3. Bị thương ứ máu, bầm :
      Cành và lá Chó đẻ và Mần tươi mỗi thứ một nắm, giã nhỏ, thêm 10g bột Đại hoàng càng tốt, hòa nước tiểu trẻ con dưới 6 tuổi vào, vắt lấy nước uống, xác đắp vào chỗ đau ngày một lần.

      4. Mắt đau sưng đỏ, viêm gan vàng da, viêm thận, đái ra máu, viêm ruột đi cầu ra toàn nước :
      Chó đẻ 40g, Mã đề 20g, Dành dành 12g. Sắc nước 1 với 4 chén nước còn 1 chén, sắc nước 2 với 4 chén nước còn 8 phân, 2 nước hòa chung chia 2 uống 2 lần trong ngày trước bữa ăn sáng và tối. Uống liên tục nhiều ngày.

      5. Lở loét thối thịt không liền miệng :
      Lá Chó đẻ, lá Thồm lồm hai thứ bằng nhau, Đinh hương 1 nụ. Giã nhỏ đắp vào vết thương ngày 1 lần.

      6. Trẻ em tưa lưỡi :
      Giã cây Chó đẻ tươi vắt lấy nước bôi vào lưỡi trẻ ngày vài lần.

      7. Sản hậu ứ huyết :
      Mỗi ngày lấy 15g cây khô rửa sạch sắc nước uống đến khi hết bệnh.



Cây Chó đẻ


CÂY CHÙM NGÂY
      Mô tả : Cây gỗ nhỏ cao tới 10m. Lá kép, thường là ba lần lông chim, có 6 đến 9 đôi lá chét hình trứng, mọc đối. Hoa trắng, có cuống hơi giống hoa Đậu, mọc thành chùy ở nách lá, có lông tơ. Lá bắc hình sợi, lá đài 5, thuôn, gập cong. Cánh hoa 5, hình thìa, nhụy sinh sản 5, bầu thượng, 1 ô, có lông. Ra hoa vào tháng giêng, tháng 2. Quả nang treo, có 3 cạnh, dài 25-30cm, hơi gồ lên ở chỗ có hạt, khía rảnh dọc. Hạt màu đen, to bằng hạt đậu Hà Lan, tròn, có 3 cạnh và 3 cánh dạng màng.

      Phân bố : Cây mọc nhiều ở Ấn Độ, lan ra các nước nhiệt đới. Ở Việt Nam thấy có ở Hà Nội, Khánh Hòa, Bình Thuận, và một số nơi khác, được các gia đình trồng làm rau ăn và làm thuốc.   

      Bộ phận dùng : Rể, thân, nhánh, lá.

      Thành phần hóa học : Toàn thân cây Chùm ngây chứa một chất kháng khuẩn có tác dụng đối với vi khuẩn gram+ và gram- và cả vi khuẩn ưa acid. Hạt chứa hơn 33% một thứ dầu không màu, ăn được và dùng trong hương liệu để định hương một số hoa.

      Công dụng :
      1. Rể có tính kích thích, chuyển máu, gây trung tiện, làm dễ tiêu hóa, trợ tim và bổ tuần hoàn, có tác dụng tốt với hệ thần kinh.
      2. Quả có tác dụng giảm đau, hạt làm dịu cơn đau, trị bệnh đau gan, tì, đau khớp, sài, uốn ván, chứng liệt.
      3. Hoa kích thích sinh lý.
      Nhựa từ thân cây chảy ra màu trắng, có tác dụng giảm đau.
      4. Lá, hoa, quả non có thể dùng làm thức ăn nhưng phải nấu chín.
      5. Rể và vỏ dùng như chất kích thích để trị các cơn đau do liệt và sốt thần kinh, trị thấp khớp mạn tính, trợ tim, bồi bổ tuần hoàn, còn dùng để gây sẩy thai. Cũng dùng cho phụ nữ sau khi sinh uống cho lại sức.
      6. Hạt dùng trị bệnh hoa liễu. Dầu từ hạt thoa ngoài trị thấp khớp.
      7. Nhựa từ thân cây chảy ra trị đau răng, phối hợp với dầu mè nhỏ trị đau lỗ tai.
      8. Hạt có khuynh hướng từ tính hút được vi khuẩn, virus, các sinh vật nhỏ trong nước, do đó có thể nghiền nát bỏ vào nước làm cho nước trong sạch để lắn nấu ăn uống được.



Cây Chùm ngây



CÂY CỎ CÚ
    Mô tả : Cây Cỏ Cú còn gọi là cỏ Gấu, củ gọi là Hương phụ. Cây có thân rể nằm dưới đất, hình chỉ, từng đoạn phình to thành củ, từ đó mọc lên thành thân cây, cao 10-60cm, hình tam giác. Lá dài bằng thân, không có lưỡi. Cụm hoa đơn hay kép, có 3-5 lá bắc, tỏa rộng ra dài hơn cộng hoa. Các bông có trục nhẵn mang 3-20 bông chét, mỗi bông chét có khoảng 30 hoa, trục bông chét có cánh. Vảy hoa hình trái soan, tù. Quả bế có 3 cạnh màu đen nhạt.

      Phân bố : Mọc hoang phổ biến khắp Việt Nam và một số nước, rất dễ phát triển.

      Bộ phận dùng : Thân củ. Có thể đào thu hoạch quanh năm. Củ phơi khô, để nguyên, hoặc chia ra 4 phần bằng nhau rồi ngâm riêng mỗi phần qua một đêm mỗi phần với giấm, nước tiểu trẻ con, muối sống, rượu, rồi trộn chung lại thành tứ chế gọi là Hương phụ.

      Công dụng : Hương phụ có vị cay, hơi đắng, ngọt, tính ấm. Có tác dụng hành khiếu, thông kinh, khai uất, tiêu sưng, giảm đau.

BÀI THUỐC CÓ CÂY CỎ CÚ
1.   Ðau dạ dày : 
      Hương phụ 30g, Riềng 15g, tán thành bột mịn. Uống 3g với nước ấm, hai lần trong ngày.

2.   Kinh nguyệt không đều, bế kinh : 
      Hương phụ sao 9g, Ích mẫu thảo 20g, đường đỏ 20g. Sắc riêng từng vị với 2 chén nước còn ½ chén, gạn bỏ bã, trộn chung lại, hòa đường đỏ uống, ngày 1 thang, uống liên tục 3-5 ngày.

      3. Điều kinh, kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh, khí huyết kém : 
      Hương phụ 20g, Ích mẫu 15g, lá Ngải cứu 10g, Nhân trần 15g, sắc với 5 chén nước nước còn 1 chén, uống 1 lần, ngày một thang.

      4. Ðiều kinh : 
      Hương phụ 3g, Ích mẫu 3g, Ngải cứu 3g, Bạch đồng nữ 3g, sắc với 5 chén nước còn 1,5 chén, chia 3 lần uống trong ngày. Muốn cho kinh nguyệt đều, uống đón kinh 10 ngày trước ngày dự đoán có kinh.

      5. Có thai nôn mửa : 
      Hương phụ 6g, Hoắc hương 10g, Cam thảo 3g. Sắc với 4 chén nước còn 1 chén, uống 1 lần, ngày 1 thang, uống 3-5 ngày.

      6. Xuất huyết tử cung, máu rỉ không dứt, bụng dưới đau : 
      Hương phụ, Ngũ linh chi sao, Huyền hồ sao giấm, mỗi vị đều 12g, Mai mực nướng 5g. Tất cả tán bột, mỗi lần uống 10g với rượu, ngày 2 lần, cử ăn thức sống lạnh.

      7. Đau lưng do sỏi thận, viêm phì đại đốt sống: 
      Hương phụ sống (không sao chế) 60g, sấy khô, tán bột mịn, uống mỗi lần 4g với nước nguội, ngày 3 lần trong 3-5 ngày.

      8. Viêm tuyến vú : 
      Hương phụ tươi, Chua me đất hoa vàng tươi, Rau má tươi, các vị bằng nhau, lượng vừa đủ giã nát đắp vào chỗ đau.

      9. Mụt cóc : 
      Hương phụ 30g, Mộc tặc 30g, Ô mai 30g, Sắc 2 lần, bõ bã, lấy nước đang nóng, ngâm hoặc tẩm gạc đắp lên chỗ mụt cóc chừng nửa giờ, ngày 2-3 lần, liên tục trong 5 ngày.

      10. Di mộng tinh lâu ngày không khỏi : 
      Hương phụ không sao chế 500g, Phục thần (hoặc Phục linh) 180g. Dùng nước vo gạo ngâm Hương phụ 1 đêm, phơi khô, chà xát bỏ lông. Lần lượt đem tẩm 4 thứ (theo đúng thứ tự): rượu lâu năm, nước tiểu trẻ em, nước muối, sữa bò, đều để qua 1 đêm rồi phơi khô. Sau cùng tán bột chung với Phục thần, luyện mật làm hoàn. Mỗi lần uống 4g với nước muối nhạt vào lúc sáng sớm.



Cây cỏ Cú


CÂY CỎ MỰC
    Mô tả : Còn gọi là cỏ Nhọ nồi (Lọ nồi). Cây thảo mọc hằng năm, thân cao 30-70cm phủ lông tơ dày, màu đỏ nâu. Lá hình ngọn giáo dài 3-6cm, rộng 0,5-1cm, mép có răng cưa thưa, có hai mặt phủ lông tơ, cuống ngắn. Cụm hoa đầu cao 6-7cm, rộng 5-6cm,  trên cuống mảnh,  dài 2-3,5cm.Tổng bao có một hàng lá bắc hình bầu dục thuôn, có lông ở mặt lưng và ở mép. Đế hoa rộng 5cm. Các hoa ở mép là hoa cái có hình dạng lưỡi, màu trắng, các hoa ở giữa là hoa lưỡng tính có ống tràng màu xanh nhạt ở đầu có 5 thùy ngắn. Quả bế dài 3mm, màu đen, không có mào lông.

      Phân bố : Cỏ Mực mọc ở ruộng ẩm, bãi hoang, ven đường, có ở nhiều nơi nước ta.

      Bộ phận dùng : Toàn cây.

      Công dụng : Cỏ Mực có vị chua, tính mát, có tác dụng lương huyết, chỉ huyết, thanh nhiệt, giải độc, đắp vết thương, chữa sốt xuất huyết.

MỘT SỐ BÀI THUỐC CÓ CỎ MỰC
1.   Chữa mề đay :
      Cỏ mực, rau Diếp cá, lá Xương sông, lá Huyết dụ, lá Khế, lá Dưa chuột, lá Nhài, lá Cải trời giã nát, chế nước vào, vắt lấy nước uống, bã dùng xoa ngoài.

      2. Chữa mộng tinh :
      Cỏ Mực sấy khô, tán nhỏ, uống mỗi lần 8g với nước cơm, hoặc 30g sắc nước uống.

      3. Chữa sốt xuất huyết nhẹ, sốt phát ban, phong nhiệt nổi mẩn :
      Cỏ Mực, rau Sam, Sài đất, Huyền sâm, Mạch môn, Ngưu tất mỗi vị 10-15g. Sắc uống ngày một thang.

      4. Chữa sốt phát ban :
      Cỏ Mực 60g. Sắc với 5 chén nước còn 1,5 chén, chia 2 uống 2 lần trong ngày.

      5. Chữa sốt cao :
      Cỏ Mực 20g, Sài đất 20g, củ Sắn dây 20g, cây Cối xay 16g, Ké đầu ngựa 12g, Cam thảo đất 16g. Sắc với 5 chén nước còn 1,5 chén, chia 2 uống 2 lần trong ngày, ngày một thang.

      6. Chữa khạc ra máu :
      Cỏ Mực 6g, rễ cỏ tranh 40 g, thêm ít thịt heo nạc, ninh lấy nước uống.

      7. Chữa chảy máu cam :
      Cỏ Mực 20g, hoa Hòe sao đen 20g, Cam thảo đất 16g. Sắc với 5 chén nước còn 1,5 chén, chia 2 uống 2 lần trong ngày, ngày một thang.

      8. Chữa tiêu chảy ra máu :
      Cỏ Mực đem sấy khô trên miếng ngói, tán bột, uống mỗi lần 6 g với nước cháo.

      9. Chữa viêm họng :
      Cỏ Mực 20g, Bồ công anh 20g, củ Rẻ quạt 12g, Kim ngân hoa 16g, Cam thảo đất 16g. Sắc với 5 chén nước còn 1,5 chén, chia 2 uống 2 lần trong ngày, ngày một thang.



Cây cỏ Mực


CÂY DỨA
(Cây Thơm, Khóm)
      Mô tả : Cây có thân ngắn, lá mọc thành hình hoa thị, cứng, dài, ở mép có răng như gai nhọn dày gọi là Khóm, có khi thưa gọi là Thơm. Khi cây trưởng thành thì từ chùm lá đó mọc ra một thân dài 20-40cm, mang một bông hoa, tận cùng bằng một chùm lá nhỏ. Bông gồm nhiều hoa, mỗi hoa mọc ở nách một lá bắc màu tím, các hoa nầy dính nhau. Khi hình thành quả thì các lá bắc nầy mọng nước tụ họp với trục bông hoa thành một quả mọng kép có màu vàng hay gạch cua. Các quả thật thì nằm trong các mắt dứa.

      Phân bố : Cây Dứa gốc ở Brasil, được trồng phổ biến khắp nơi làm thức ăn, nước giải khát, và làm thuốc chữa bệnh.

      Bộ phận dùng : Quả, nỏn cây và rể cây.

      Công dụng : Quả Dứa có vị chua ngọt, tính bình. Ngoài việc dùng làm thức ăn uống, cây Dứa còn có tác dụng chữa nhiều bệnh rất hiệu quả :

1.   Chữa sốt nóng :
      Lấy nỏn Dứa 30-40g, rửa sạch, cắt nhỏ, giã vắt lấy nước chia 2 uống 2 lần trong ngày sau các bữa ăn sáng và tối.
      Hoặc lấy 1 quả Dứa giã nát, vắt lấy nước, thêm vào ít nước sôi để nguội uống vài ba lần hết trong ngày.

2.   Chữa tiểu tiện không thông, đái ra sỏi :
      Dùng rể cây Dứa 30-40g, rửa sạch, sắc với 6 chén nước sôi còn 1,5 chén, chia 2 uống 2 lần trong ngày sau  các bữa ăn sáng và tối.

3.   Viêm ruột, tiêu chảy :
      Lấy 30g lá Dứa rửa sạch, cắt nhỏ, sắc với 4 chén nước sôi còn 1 chén, uống 1 lần trong ngày sau khi ăn. Dùng vài ngày hết bệnh.  

4.   Viêm thận :
      Lấy quả Dứa già cắt ra 60g, rể cỏ Tranh tươi 30g, rửa sạch, nấu với 4 lít nước còn 2 lít, uống thay nước trong ngày.

5.   Viêm phế quản :
      Quả Dứa già 120g, mật ong 30g, lá Tì bà (Tì bà diệp) 30g. Rửa sạch, nấu với 4 lít nước sôi còn 2 lít, uống thay nước trong ngày.

6.   Rối loạn tiêu hóa :
      Lấy 1 quả Dứa,  2 quả Quít,  rửa sạch ép lấy nước uống hết trong ngày.

7.   Sỏi thận, mật, bang quang :
      Ép lấy nước 1 trái Dứa, pha vào 2 muỗng canh mật ong rừng, chưng cách thủy cho sôi chừng 5 phút. Uống 1 lần trong ngày sau khi ăn. Uống liên tục ít ngày sạn sẽ tiêu.



Cây Dứa (Thơm, Khóm)



CÂY ĐINH LĂNG
      Mô tả : Cây Đinh lăng còn gọi là cây Gỏi cá. Cây nhỏ dạng bụi,  cao 1,5-2m. Thân nhẵn, ít phân nhánh, các nhánh non có nhiều lỗ bì lồi. Lá kép mọc so le có bẹ, phiến lá xẻ 3 lần lông chim, mép có răng cưa không đều, chóp nhọn, lá chét và lá nhọn đều có cuống. Cụm hoa chùy ở ngọn, gồm nhiều tán. Hoa nhỏ màu trắng xám. Quả hình trứng, dẹt, màu trắng bạc.

      Phân bố : Cây có nguồn gốc từ các đảo Thái bình dương, được trồng chủ yếu để làm cảnh, trồng bằng cách giâm nhánh, chọn những nhánh già, cắt ngắn chừng 15-20cm, cắm nghiên như trồng sắn. Trồng vào tháng 2-4 hay tháng 8-10.

      Bộ phận dùng : Rể, thân và lá.

      Công dụng : Rể Đinh lăng có vị ngọt, tính bình, lá vị nhạt hơi đắng, tính bình. Có tác dụng bổ ngũ tạng, bổ huyết, giải độc, tăng sữa, tiêu thực, tiêu sưng viêm, tăng lực, phụ nữ sau sinh ít sữa, chữa phong thấp, đau lưng…

MỘT SỐ BÀI THUỐC CÓ ĐINH LĂNG
1.   Chữa sưng đau cơ khớp, vết thương :
      Giã nhuyễn 40g lá Đinh lăng tươi, trộn thêm ít rượu đắp vết thương hay chỗ sưng đau.

      2. Trẻ bị co giật, ngủ hay giật mình : Phơi khô lá Đinh lăng, cho vào gối hay trải giường cho bé nằm.

      3. Tăng sức dẻo dai cơ thể :
      Rể cây Đinh lăng có tác dụng làm tăng sức dẻo dai của cơ thể trên thí nghiệm cấp tính tương tự như nhân sâm. Sắc uống hằng ngày.

      4. Bồi bổ cơ thể :
      Rễ cây Đinh lăng thái mỏng 15gam, đun sôi 15 phút với 300ml nước, chia uống 2-3 lần/ngày có tác dụng bồi bổ cơ thể, giảm tình trạng mệt mỏi, lười hoạt động.

      5. Chữa tắc tia sữa hiệu quả :
      Lấy 30-40g rễ cây Đinh lăng, sắc với 5 chén nước còn 1,5 chén, chia 2 uống nóng 2 lần trong ngày. Uống luôn 2-3 ngày, có tác dụng thông tia sữa, giảm căng vú sữa, vú hết nhức.

      6. Chữa đau lưng mỏi gối :
      Lấy 20-30g thân và cành Đinh lăng, rễ cây Xấu hổ, Cúc tần và Cam thảo dây, sắc lấy nước, uống 3 lần mỗi ngày.

      7. Chữa ho suyển lâu năm :
      Lấy 8g mỗi loại gồm rễ Đinh lăng, rễ cây Dâu, Bách bộ, Nghệ vàng, đậu Săn, rau Tần dày lá, 6g củ Xương bồ, 4g Gừng khô, sắc với 5 chén nước còn 1,5 chén, chia 2 uống 2 lần trong ngày. Uống lúc còn nóng, mỗi ngày 1 thang.

      8. Chữa dị ứng, ban sởi, ho, kiết lị :
      Lá Đinh lăng phơi khô 10gr, sắc với 2 chén nước còn 1 chén, chia uống 2 lần trong ngày.

Cây Đinh lăng


CÂY (dây) GẤC
    Mô tả : Cây dạng dây leo sống nhiều năm, ít nhánh, dài đến vài chục mét. Lá mọc so le, phiến xẻ sâu 3-5 thùy.  Hoa mọc riêng lẻ ở nách lá. Hoa đực có lá bắc to, tràng hoa màu vàng. Hoa cái có lá bắc nhỏ. Quả to, có nhiều gai, khi chín có màu gạch đến đỏ thẫm. Hạt dẹt cứng màu đen. Người ta còn dựa vào độ sai của quả nhiều hay ít, kích thước của quả to hay nhỏ, gai của quả nhặt hay thưa, màu sắc của ruột quả đỏ hay vàng gạch, chất béo ít hay nhiều, số lượng hạt nhiều hay ít để chia ra Gấc tẻ (Gấc giun) hay Gấc nếp (Gấc gạch).

      Phân bố : Dây Gấc được trồng khắp nơi ở Việt Nam và một số nước khác, làm giàn như giàn bí bầu, hay cho leo lên hang rào.

      Bộ phận dùng : Hạt lấy màng đỏ bao quanh để ép dầu, thịt trái Gấc có vị béo để nấu xôi Gấc ăn rất ngon. Rể và lá phơi khô để làm thuốc chữa bệnh.

      Công dụng : Hạt Gấc có vị đắng, hơi ngọt, tính ấm, có độc, có tác dụng tiêu tích, lợi trường, tiêu thủng, sinh cơ, tiêu sưng. Rể Gấc có vị hơi đắng, mùi thơm, tính mát, có tác dụng trừ thấp nhiệt, hoạt huyết, lợi tiểu. Dầu Gấc có vị ngọt, tính bình, có tác dụng bổ tì, làm sáng mắt.

BÀI THUỐC CÓ CÂY (dây) GẤC
      1. Bổ sung Vitamin giúp đôi mắt sáng đẹp :
      Trong dầu gấc chứa khá  nhiều hàm lượng Beta carotene là tiền sinh tố của Vitamin A. Chất này khi vào cơ thể sẽ  chuyển thành vitamin A, loại vitamin tuyệt vời đối với mắt. Nếu học sinh sinh viên hay thức khuya ôn bài, hoặc làm việc lâu trước máy vi tính, mỏi mắt, nhức mắt… nên bổ sung dầu gấc thường xuyên để có một thị lực tốt hơn.

      2. Làm  đẹp da, trị mụn trứng cá :
      Trái Gấc chứa một lượng lớn các chất dinh dưỡng đáng khâm phục.  Trong dầu Gấc chứa rất nhiều vitamin. Trong đó hàm lượng Lycopen, beta carotene, Alphatocopherol…cao gấp 68 lần cà chua. Trong lớp màng đỏ bao quanh hạt Gấc còn chứa rất nhiều vitamin E là chất chống oxy hóa, chống lão hóa tế bào. Các chất thiên nhiên này góp phần giữ gìn sự thanh xuân, chống sạm da, khô da, rụng tóc,...
      Không chỉ vậy, hiện nay dầu Gấc còn được chiết suất để chữa các loại mụn trứng cá có nhân. Vì vậy, Gấc trở thành loại quả dùng trong công nghiệp mỹ phẩm.

      3. Phòng chống ung thư :
      Theo nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ, chất Lycopen trong Cà chua có  khả năng phòng chống ung thư, hạn chế sự  phát triển các tế bào ung thư. Nhưng theo nghiên cứu của Đại học Califonia thì hàm lượng Lycopen trong Gấc còn cao gấp 70 lần. Không chỉ vậy, gấc còn chứa nhiều các chất khác như Vitamin E, carotene…làm vô hiệu hóa 75% các chất gây ung thư, đặc biệt là ung thư vú, ung thư tuyến tiền liệt…Do đó, người Mỹ gọi gấc là loại quả đến từ thiên đường.
      Bệnh nhân ung thư sau điều trị phẫu thuật, tia xạ, hóa chất, corticoid… dùng dầu Gấc giúp phục hồi sức khỏe nhanh chóng và ngăn chặn các nguy cơ gây ung thư. Phòng chữa viêm gan, xơ gan và những thương tổn tiền ung thư đặc biệt xơ gan có HbsAg(+) và nồng độ AFP cao đe doạ trở thành ung thư gan nguyên phát.
      Mặc dù vậy, y học khuyến cáo mỗi ngày người lớn chỉ nên sử dụng 20-25 giọt dầu gấc và 5-10 giọt đối với trẻ em.  

      4. Tác dụng tốt với tim mạch :
      Dầu Gấc có tác dụng làm giảm LDL cholesterol, làm bền thành mạch, chống xơ vữa động mạch, từ đó chống tai biến. Mang lại hệ tuần hoàn khỏe mạnh, tốt cho tim, người bị mắc bệnh tiểu đường. Chống các bệnh tim mạch, góp phần chống tai biến, tăng cường tuổi thọ.

      5. Nhuận tràng, tốt cho tiêu hóa :
      Các món ăn từ Gấc không chỉ ngon, đầy màu sắc mà còn nhuận tràng chống táo bón tốt cho hệ tiêu hóa.

      6. Nâng cao sức  đề kháng cơ thể :
      Curcumin trong dầu Gấc có khả năng loại bỏ các gốc tự do gây ung thư có trong thức ăn, nước uống hàng ngày. Đồng thời nâng cao sức đề kháng, thể lực. Bên cạnh tinh chất Curcumin được coi là quý giá còn có Beta Caroten chứa trong màng của quả gấc cũng có tác dụng chống ôxy hóa mạnh, tăng cường sức đề kháng cho cơ thể. Giúp cơ thể nâng cao hệ thống miễn dịch.

      7. Chữa bệnh trĩ nội, trĩ ngoại :
      Rất đơn giản, chỉ có dầu Gấc và tỏi ta. Lấy một số tép tỏi ta lột bỏ vỏ ngoài, cà nhẹ cho xơ màng lụa, rồi bỏ vào một bình nhỏ. Đổ dầu Gấc vào vừa ngập, ngâm chừng 30 phút là dùng được.
      Ngày 2 lần sáng và tối trước khi đi ngủ, sau khi đi đại tiện xong, rửa sạch, lấy một tép tỏi ngâm dầu Gấc nhét vào hậu môn, xong lấy chút bông gòn thấm dầu Gấc trong bình thoa nhẹ bên ngoài hậu môn. Làm như vậy ít ngày sẽ thấy kết quả. Làm tiếp đến khi hết hẵn bệnh.



Cây (dây) Gấc


CÂY HOÀN NGỌC
      Mô tả : Hoàn ngọc còn có tên là Xuân hoa, Nhật nguyệt, Tu lình, Con khỉ, Mặt quỉ, Trạc mã, Thần tượng linh, La điển, Nội đồng.
      Cây Hoàn ngọc chính hiệu được xác định tên khoa học là Pseuderanthemum palatiferum (Walls) Radlk, thuộc họ Ô rô (Acanthaceae). Hoàn ngọc thật được định dạng là lá có hình xoan nhọn, ngắn, màu xanh nhạt, dài 12-17cm, rộng 3,5-5cm, mặt dưới lá có đốm đen, gân bên 6-9 đôi. Thân đứng, cao khoảng 1-2m, sống lâu năm, có nhiều cành. Hoa lưỡng tính, không đều, 5 lá đài hình sợi, dài 5-6mm, tràng hoa có ống dài 2-4cm. Cụm hoa dạng bông chia nhánh. Quả nang có lông mịn, cao 3,5cm, phần lép 2,2cm, 2 ô, mỗi ô chứa 2 hạt.
      Ngay cả cây Hoàn ngọc thật, cũng không phải cây nào cũng có phẩm chất chữa bệnh như nhau. Thổ nhưỡng có tác động lớn đến dược tính của cây Hoàn ngọc. Những cây Hoàn ngọc trồng trong chậu kiểng ít dược tính hơn cây Hoàn ngọc tự nhiên, hoặc trồng theo quy trình khoa học.
      Trong dân gian thường có thói quen dùng lá tươi Hoàn ngọc để chữa bệnh. Tuy nhiên, do lá Hoàn ngọc mang tính hàn nên dùng nhiều sẽ gây lạnh tỳ. Các chuyên gia khuyến cáo không nên dùng lá tươi một cách tùy tiện mà phải đúng liều lượng. Mặt khác, có thể người dùng còn nhầm lẫn cây Hoàn ngọc với một số cây có hình dạng tương đồng, chẳng hạn như cây Hoàn ngọc dương hay còn gọi là cây Nhớt tím, cây Hoàn ngọc đỏ (vì ngọn, lá non và thân có màu đỏ tía). Hay một loại cây khác mà trong dân gian đã nhầm lẫn là Hoàn ngọc, cây này có lá dài, màu xanh đậm, thân bò, cao trên 1 m. Những cây này tương đối giống Hoàn ngọc nhưng chưa được nghiên cứu khoa học về công dụng và độc tính.

      Phân bố : Cây mọc dưới tán rừng, ưa ẩm và sinh trưởng nhanh, nhân giống bằng giâm cành. Cây mọc hoang ở phía Bắc nước ta, thấy trồng ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Tây Ninh, và nhiều nơi khác.

      Công dụng :
      1. Rễ cây Hoàn ngọc là thành phần quan trọng nhất trong cây được nghiên cứu có tác dụng ức chế khối u. Rễ được dùng làm thuốc thường phải có số tuổi là 7 năm trở lên mới tốt, vì vậy khi sử dụng dược liệu và các sản phẩm từ cây Hoàn ngọc, người dùng cũng nên chú ý đến chất lượng và số tuổi của rễ cây để đạt kết quả điều trị cao nhất.
 
      2. Lá được dùng để khôi phục sức khỏe cho người ốm yếu, suy nhược thần kinh, rối loạn tiêu hóa, lị, táo bón, đau bụng không rõ nguyên nhân, chấn thương chảy máu, dạ dày, đại tràng, trĩ nội, viêm thận, chảy máu đường ruột, đái ra máu, đái gắt, đái buốt, u phổi, u xơ tuyến tiền liệt, điều chỉnh huyết áp. Liều dùng hằng ngày 3-7 lá.
      Người hay bị lạnh bụng phải cẩn thận khi dùng vì cây Hoàn ngọc tính hàn.

BÀI THUỐC CÓ CÂY HOÀN NGỌC
      1.Chữa xuất huyết dạ dày, ường ruột, đi tiêu đi tiểu ra máu :
      Lấy 1 nắm to lá Hoàn ngọc tươi, rửa sạch, sắc với 3 chén nước còn 1 chén. Uống lúc sáng sớm trước bữa ăn, hoặc lúc bụng đói. Uống liên tục vài ba ngày sẽ hết bệnh.

      2.Chữa u xơ phổi, tiền liệt tuyến :
      Lấy 1 nắm lá Hoàn ngọc tươi, rửa sạch, cắt nhỏ, xay sinh tố với 1 chén nước. Uống luôn cả xác,ngày 3 lần trước bữa ăn. Uống liên tục 1 tháng bệnh sẽ cải thiện.

      3.Chữa viêm gan, xơ gan cổ trướng : 
      Mỗi lần ăn 10 lá Hoàn ngọc tươi khi bụng đói, ngày 3 lần.
      Hoặc lấy lá Hoàn ngọc khô xay bột mịn, trộn với bột Tam thất 2 thứ bằng nhau. Uống ngày 3 lần trước bữa ăn, mỗi lần 1 muỗng cà phê. Uống liên tục 7 ngày bụng sẽ thấy nhẹ và xẹp dần. Tiếp tục uống cho đến khi hết bệnh. Đây là bài thuốc cổ rất hay.

      4.Chữa suy thận, viêm thận cấp và mãn tính, đái đục, đái ra máu :  
      Mỗi lần nhai 9 lá Hoàn ngọc tươi, ngày 3 lần trước hoặc sau bữa ăn. Nhai lien tục 1 tháng bệnh sẽ cải thiện.

      5. Điều chỉnh huyết áp cao hoặc thấp quá : 
      Nhai rất chậm 9 lá Hoàn ngọc tươi cho nước miếng quyện vào lá, rồi nuốt từ từ. Ăn xong nằm nghỉ ngơi chừng 15 phút huyết áp sẽ bình thường lại. Rất hay !


Cây Hoàn ngọc


CÂY KHÔI
      Mô tả : Cây Khôi còn có tên là cây Cơm nguội rừng. Cây nhỏ, cao tới 2m, thân rỗng xốp, ít phân nhánh. Lá tập trung ở đầu ngọn hay các nhánh bên, phiến lá thon ngược dài 15-20cm, rộng 6-10cm, mặt trên màu lục sẫm mịn như nhung, mặt dưới màu tím đỏ, gân nổi hình mạng lưới màu xanh lợt hơn lá, mép lá có răng cưa nhỏ. Hoa mọc thành chùm dài 10-15cm, màu trắng pha hồng tía gồm 5 lá đài và 3 cánh hoa. Quả mọng, khi chin màu đỏ.

      Phân bố - Bộ phận dùng : Mọc ở rừng nguyên sinh và thứ sinh, nơi ẩm nhiều mùn, ven suối, ở độ cao 400-1500m. Thấy ở miền núi và trung du Bắc bộ Trung bộ.

      Bộ phận dùng : Dùng lá và rể để làm thuốc chữa bệnh.

      Công dụng : Cây Khôi có vị chua, nước sắc lá có tác dụng làm giảm độ chua của dạ dày.

ĐƠN THUỐC CÓ CÂY KHÔI
      1. Chữa đau dạ dày :
      - Lá Khôi 80g,
      - Lá Bồ công anh 40g,
      - Cam thảo dây 20g.
      Sắc nước 1 với 6 chén nước còn 1,5 chén, sắc nước 2 với 5 chén nước còn 8 phân. Hòa chung chia 2 uống 2 lần sáng và tối trước bữa ăn. Uống liên tục ít ngày sẽ khỏi.

      2. Chữa trẻ bị sài, lở, mụt nhọt :
      Lá Khôi còn phối hợp với lá Vối hay lá Hòe nấu nước tắm cho trẻ em bị bị sài lở.
      Hoặc giã lá Khôi với lá Vối, trộn dầu mè đắp nhọt cho trẻ.

      3. Bổ huyết :
      Rể cây Khôi phơi khô ngâm rượu uống bổ huyết.

      4. Chữa kiết lị ra máu, đau yết hầu, cơ bắp :
      Rể sắc uống chữa kiết lị ra máu, đau yết hầu và đau cơ bắp thịt.


Cây Khôi


CÂY MÃ ĐỀ
(còn gọi là Xa tiền thảo)
      Mô tả : Cây thảo sống lâu năm, cao 15-20cm, có thân ngắn. Lá mọc thành cụm ở gốc, có cuốn rộng ngắn hơn phiến, phiến hình thìa hay hình trứng, có 2-3 gân hình cung. Hoa nhỏ màu trắng, xếp thành bông dài mọc đứng. Quả hộp nhỏ hình cầu, chứa 6-18 hạt. Hạt nhỏ tròn hay bầu dục, to 1,5mm, màu đen bóng, gọi là Xa tiền tử.

      Phân bố : Cây mọc nơi sáng và ẩm, các bãi hoang, bờ ruộng, ven đường, cũng được trồng ở khắp nơi.

      Bộ phận dùng : Phần cây trên mặt đất gọi là Xa tiền thảo.

      Công dụng : Mã đề có vị ngọt, tính mát, có tác dụng tiêu viêm, lợi phế, lợi tiểu, long đàm.

ĐƠN THUỐC CÓ MÃ ĐỀ
1.   Chữa ho, tiêu đờm : 
      Mã đề 10g, Cam thảo 5g, Cát cánh 12g, sắc nước 1 với 4 chén nước còn 1 chén, sắc nước 2 với 4 chén còn 8 phân, hòa chung 2 nước chia làm 2 lần uống sáng và tối trong ngày sau bữa ăn.

2.   Thông lợi tiểu : 
      Hạt Mã đề 10g, Cam thảo 5g, nước 600ml, nấu sôi lửa nhỏ trong 30 phút, uống thay nước trong ngày.

3.   Chữa viêm cầu thận mạn tính : 
      Mã đề 20 g, Ý dĩ 16 g, Thương truật, Phục linh, Trạch tả mỗi vị 12 g, Quế chi, Hậu phác mỗi vị 6 g, Xuyên tiêu 4 g. Sắc nước 1 với 5 chén nước còn 1 chén, sắc nước 2 với 4 chén nước còn 8 phân. Hòa chung chia 2 uống sáng và tối sau bữa ăn, ngày một thang.

4.   Chữa sỏi niệu : 
      Hạt Mã đề 30 g, Kim tiền thảo 40 g, Thạch vĩ 30 g, Hoạt thạch 30 g, Tam lăng, Ý dĩ, Ngưu tất, Nga truật mỗi vị 20 g; Chỉ xác, Hậu phác, gai Bồ kết, Hạ khô thảo, Bạch chỉ mỗi vị 12 g. Đổ 2,5 lít nước nấu sôi lửa nhỏ còn 1 lít, uống nhiều lần trong ngày. Uống liên tục đến khi hết bệnh.

5.   Chữa viêm bàng quang cấp tính : 
      Mã đề 16g, Hoàng bá, Hoàng liên, Phục linh, rễ cỏ Tranh, mỗi vị 12 g, Trư linh, Mộc thông, Hoạt thạch, Bán hạ chế, mỗi vị 8 g. Sắc nước 1 với 4 chén nước còn 1 chén, sắc nước 2 với 4 chén nước còn 8 phân. Hòa chung chia 2 uống 2 lần trong ngày sáng và tối.

6.   Chữa lỵ : 
      Mã đề, dây Mơ lông, cỏ Seo gà mỗi vị 20 g. Sắc với 6 chén nước còn 2 chén, chia uống 3 lần trong ngày.

7.   Chữa tiêu chảy : 
      Mã đề tươi 2 nắm, rau Má tươi 1 nắm, cỏ Nhọ nồi tươi 1 nắm. Sắc với 2 lít nước còn ½ lít, chia ra uống 3 lần trong ngày, uống ngày một thang.


Cây Mã đề


CÂY MĂN TÂY
      Mô tả : Cây thảo có thân mọc ngầm trong đất, thường gọi là thân rể. Thân rể dày, mang nhiều rể dài, đường kính 5 đến 6mm, màu nâu sáng, sốp. Các thân đứng mọc lên khỏi mặt đất lởm chỡm những vết sẹo của những nhánh đã rụng, giống như mụt măng nên gọi là Măng tây. Các thân này sinh ra những vòng cành nhỏ biến đổi thành lá hình kim sát thân. Hoa rất nhỏ, màu lục, hình chuông, dài độ 6mm, tập hợp 4-6 cái thành nhóm ở nách lá của các cành dạng lá. Quả hình cầu, dày, màu đỏ.

       Phân bố : Cây từ miền Nam châu Âu, lan ra nhiều nước. Ở nước ta trồng chủ yếu để lấy măn non làm thức ăn, sau nầy mới biết đến là vị thuốc chữa bệnh rất hay.

      Thành phần hóa học : Chứa nhiều vitamine A, B1, B2 và C. Vì có chứa ít lưu huỳnh nên trong nước tiểu người ăn Măng tây có mùi khó chịu.

      Công dụng : Ngoài việc dùng để chế biến thức ăn, Măng tây còn có tác dụng chữa bệnh như sau :
      1. Thân rể có vị đắng, hơi cay, tính ấm, có tác dụng chữa nhuận phế, long đàm, sát trùng.
      2. Măng tây làm dịu sự kích thích, lợi tiểu, nhuận tràng, trợ tim, kích thích sinh lý, cung cấp nhiều chất khoáng cho cơ thể, làm giảm lượng glucose trong niệu. Chữa yếu gan, thận, sỏi niệu, thấp khớp, đau nhức do phong, viêm phế quản mãn tính, phổi nóng sinh ho khan.
      3. Thân rể được dùng chữa bệnh về thận, thủy thủng, vàng da.  
      4. Ngoài ra Măng tây còn dung để chữa bệnh ung thư bằng cách : rửa sạch, cắt nhỏ, bỏ vào máy xay sinh tố xay nhuyễn làm thành xi-rô, đổ vào bình cho vào tủ lạnh dùng dần. Mỗi ngày uống 2 lần vào buổi sáng và tối, mỗi lần 2 muỗng canh pha 1 muỗng mật ong rừng, thêm ít nước sôi để nguội cho dễ uống.

      Chú ý : Người bị viêm bàng quang, viêm khớp cấp tính, viêm đường tiết niêu, bị bệnh thần kinh, bệnh Gout (gút) không nên ăn Măng tây.

Cây Măn tây


CÂY MẬT NHÂN
(cây Bá bệnh, Hậu phác)
      Mô tả : Cây nhỏ có cành, lá kép lông chim lẻ gồm 10-36 đôi lá chét, hầu như không có cuống, hình dài, dày, nhẵn hoặc có lông ở mặt dưới. Hoa và bao hoa phủ đầy lông. Quả hạch màu đỏ, nhẵn, hơi thuôn dài, đầu tù-và cong, mặt trong có lông thưa và ngắn. Một hạt, trên mặt hạt có nhiều lông ngắn.

      Phân bố : Cây mọc phổ biến ở miền Trung nước ta. Người ta dùng vỏ quả, vỏ thân hay vỏ rể phơi hay sấy khô để làm thuốc.

      Công dụng : Như tên gọi, là cây thuốc chữa được nhiều bệnh như :
      1. Vỏ dùng chữa các bệnh : ăn không tiêu, ỉa chảy, giải độc rượu, đau nhức mỏi, khí hư, huyết kém, trong ngực có cục tích, gân đờ, xương yếu, phụ nữ đau bụng kinh, làm thuốc bổ.
      2. Quả dùng chữa tả lị.
      3. Rể dùng chữa ngộ độc, say rượu, sốt rét, tẩy giun.
      4. Lá dùng nấu nước tắm ghẻ, lở, ngứa.
      5. Lá và nhánh cây còn phối hợp với các vị thuốc khác chữa nhiều bệnh nan y rất hay.
      Liều dùng : Ngày dùng 8-16g khô sắc uống, hoặc tán bột làm thành viên uống, hay ngâm rượu uống.

     Chú ý : Phụ nữ có thai không nên dùng.


Cây Mật nhân



CÂY NGẢI CỨU (thuốc cứu)
      Mô tả : Cây ngải cứu có tên khoa học là Artemisia Vulgaris, thường có mùi thơm nồng và có vị hơi đắng hoặc rất đắng tùy theo mùa. Cây thảo sống lâu năm, thân mọc đứng, cao 0,5-1,5m, phân nhiều cành, phủ lông tơ trắng và có rảnh dọc. Lá mọc so le, xẻ nhiều kiểu từ xẻ lông chim đến xẻ thùy theo đường gân, mặt trên xanh đậm, mặt dưới trắng xanh, có lông. Cụm hoa chung dạng chùy ở ngọn hay ở nách lá, tạo ra những nhánh bông dài 2-10cm. Các cụm hoa đầu có đường kính 3-4cm, không cuống. Quả bế nhẵn, không có mào lông.

      Phân bố : Cây mọc hoang ở ven đường, bãi đất hoang, nơi ẩm mát, cũng được trồng phổ biến ở khắp nơi.

      Bộ phận dùng : lá và ngọn, dùng tươi hay phơi khô trong bóng râm để dành. Nếu tán nhỏ rồi rây lấy phần lông trắng và bột gọi là Ngãi nhung dùng làm mồi cứu.

       Công dụng :
1.   Làm thuốc điều kinh :
      Một tuần trước ngày dự kiến hành kinh, mỗi ngày lấy 6-12g (tối đa 20g) sắc với 1 lít nước còn non nửa lít, hoặc bỏ vào bình rồi nấu nửa lít nước sôi đổ vào như trà, chia làm 3 lần uống trong ngày. Có thể làm bột (5-10g) uống cũng được.
      Nếu kinh nguyệt không đều thì hàng tháng đến ngày bắt đầu kinh và cả những ngày có kinh, lấy Ngải cứu khô 10g, đổ vào 2 chén nước sắc còn nửa chén, thêm vài muỗng mật ong cho dễ uống, chia 2 lần uống trong ngày. Uống vài ngày kinh nguyệt sẽ đều.

2.   Giúp an thai :
      Người mang thai nếu thấy có hiện tượng đau bụng, ra máu, dùng 16g lá Ngải cứu, 16g lá Tía tô, sắc nước 1 với 4 chén nước còn 1 chén, sắc nước 2 với 3 chén nước còn 1 chén. Hòa chung 2 nước chia 3 uống 3 lần trong ngày sau các bữa ăn. Ngải cứu có tác dụng an thai nên không sợ gây sẩy thai. 

3.   Sơ cứu vết thương :
      Lấy 1 nắm lá Ngải cứu tươi rửa sạch, thêm vào 1/3 muỗng cà phê muối sống, giã nát, đắp lên vết thương, máu sẽ cầm nhanh, giảm đau nhức.

4.   Trị mụn, mẩn ngứa :
      Lá Ngải cứu tươi rửa sạch,giã nát, đắp lên mặt để khoảng 20 phút, rồi rửa sạch mặt. Làm nhiều lần trong ngày, vài ngày da sẽ trắng sáng hồng.
      Trẻ em bị rôm sảy thì giã nát nhiều nhiều lá vắt lấy nước hòa vào nước ấm tắm cho trẻ.

5.   Đau thần kinh tọa, nhức xương, đau đầu hoa mắt :
      Lấy 300g Ngải cứu tươi rửa sạch, giã nát, thêm vào 2 muỗng canh mật ong rừng, vắt lấy nước chia 2 uống trưa và chiều. Uống liên tục 1-2 tuần hết bệnh.

6.   Giúp lưu thông máu lên nảo :
       Lấy một nắm lá Ngải cứu rửa sạch, xắc thật nhỏ, trộn đều với 1 quả trứng gà, nêm muối vừa ăn, đổ vào chảo chiên chín rồi ăn hết 1 lần trong ngày. Ăn 7 ngày máu sẽ lưu thông đều lên nảo.

7.   Suy nhược cơ thể, kém ăn :
      Lấy 250g Ngải cứu, 2 quả Lê, 20g Câu kỷ tử, 10g Đinh quy, 1 con gà Ri (gà Ác) cở 150g, gia vị vừa ăn, hầm với 1/2 lít nước còn 1/4 lít. Chia 5 phần ăn 5 lần hết trong ngày, ăn liên tục 1-2 tuần.

8.   Cảm cúm, ho, đau cổ họng, đau đầu, đau dây thần kinh :
      Lấy 300g lá Ngải cứu, 100g lá Khuynh diệp, 100g lá Bưởi hay Quít, Chanh, rửa sạch, nấu với 2 lít nước cho sôi 20 phút, nhắt xuống xông 15 phút.
      Hoặc lấy 300g lá Ngải cứu, 100g lá Tía tô, 100g lá rau Tần, 50g lá Sả. Nấu với 1 lít nước còn ½ lít, uống hết trong ngày. Uống liên tục trong 1 tuần.

      Ngải cứu được coi là tốt cho sức khỏe nhưng nếu dùng quá nhiều cũng có thể gây ra ngộ độc. Độc tính của ngải cứu khi dùng quá liều sẽ làm cho  thần kinh trung ương bị hưng phấn quá mức, dẫn tới chân tay run giật, sau đó cục bộ hoặc toàn thân co giật. Sau vài lần có thể dẫn đến co cứng, nói nhảm, thậm chí bị tê liệt. Kiểm tra bằng phương pháp điện soi có thể phát hiện các tổn thương ở tế bào não. Sau khi khỏi bệnh, vẫn thường để lại những di chứng như hay quên, ảo giác, viêm thần kinh,…

Cây Ngải cứu (thuốc Cứu)


CÂY SẢ
      Mô tả : Cây Sả còn có tên Sả chanh, Mao hương. Cây thảo sống lâu năm, mọc thành bụi, phân nhánh nhiều từ gốc, cao khoảng 1,5m. Thân rể trắng hoặc hơi tím.Lá dài đến 1m, hẹp, mép lá hơi ráp, bẹ trắng, rộng. Cụm hoa gồm nhiều bong nhỏ không cuống.

      Phân bố : Được trồng ở khắp nơi, nhất là ở Do Thái người ta trồng thành đồn điền rộng mênh mông để náu nước uống và làm thuốc.

      Bộ phận dùng : Toàn cây.

      Công dụng : Vị ngọt đắng, tính ấm, có mùi thơm. Có tác dụng khư phong, thanh thấp, tán hàn, giải biểu, thong kinh lạc, tiêu thủng, nước sắc đặc thoa ngừa côn trùng cắn.
      Ngoài công dụng làm gia vị, cây Sả còn là vị thuốc chữa rất nhiều bệnh. Tinh dầu Sả dùng khử mùi hôi tanh, xua ruồi muỗi, xoa ngoài chữa cảm cúm và phòng bệnh truyền nhiễm.

MỘT SỐ BÀI THUỐC CÓ CÂY SẢ
1.   Đau dạ dày :   
      Lấy 30-45g cây tươi nấu nước uống hằng ngày.

2.   Hôi miệng, hôi nách :
      Bột củ Sả 10 phần, phèn phi 1 phần, trộn đều, viên thành viên bằng hạt bắp, uống mỗi lần 5 viên, ngày uống 3 lần.

3.   Ngăn ngừa ung thư
      Một số nghiên cứu cho thấy mỗi 100g Sả chứa đến 24,205 microgam beta-carotene - những chất chống  oxy hóa mạnh mẽ có thể giúp ngăn ngừa ung thư.

      4. Giúp tiêu hóa tốt
      Trà từ cây Sả và tinh dầu Sả (có thể uống 3-4 giọt với nước đun sôi để nguội) có tác dụng hỗ trợ tiêu hóa kém, ăn chậm tiêu, đầy bụng, buồn nôn, nôn mửa, hay kích thích trung tiện, đau dạ dày, nóng trong, co thắt ruột, tiêu chảy. 
      Tinh dầu Sả cũng giúp giảm thiểu các vấn đề về khí trong cơ thể vì có khả năng thư giãn các cơ dạ dày. Nó không chỉ giúp loại bỏ khí từ ruột, mà còn ngăn ngừa sự đầy hơi. Kích thích tiêu hóa, khử hôi miệng, tiêu đờm. Uống 3-6 giọt tinh dầu chữa đau bụng đầy hơi. Chú ý táo bón mà có sốt không dùng cây Sả, không dùng cho trẻ em dưới 1 tuổi.

      5. Chữa đau bụng, rối loạn tiêu hóa :
      Cây sả tươi 30-50g đun sôi, hòa thêm đường đủ ngọt, uống nóng 2-3 lần trong ngày. Dùng chữa chứng bội thực, đau bụng đi tả, nôn ọe, cảm sốt, ngộ độc rượu. Liều dùng mỗi ngày từ 6-12g.

      6. Chữa đau bụng tiêu chảy do lạnh :
      Củ Sả 12g, vỏ quít khô 12g, búp ổi 12g, củ gấu 20g, gừng tươi 3 lát. Đổ 4 chén nước sắc còn 1 chén uống nóng (trẻ em thì chia uống làm 2-3 lần). Nếu không đỡ thì thêm 15g tía tô, rất hiệu nghiệm.

      7. Giải độc :  
      Ăn Sả cũng có tác dụng giải độc cơ thể bằng cách tăng cường số lượng và tần xuất đi tiểu (thông tiểu tiện). Điều này giúp cho gan, đường tiêu hóa, tuyến tụy, thận và bàng quang được sạch sẽ và khỏe mạnh bằng cách hỗ trợ cơ thể loại bỏ các chất độc hại không mong muốn và acid uric. 
      Đặc biệt Sả giải độc rượu rất nhanh, bạn có thể dùng 1 bó Sả giã nát, thên nước lọc, gạn lấy 1 chén. Người say rượu nặng uống vào sẽ nhanh chóng tỉnh và đỡ mệt, đỡ nhức đầu.

      8. Có lợi cho hệ thần kinh :  
      Tinh dầu Sả được sử dụng để tăng cường và cải thiện các chức năng của hệ thần kinh, thông kinh lạc. Nó hỗ trợ trong điều trị một số rối loạn của hệ thần kinh như bệnh Alzheimer, bệnh Parkinson, co giật, căng thẳng, chóng mặt, run rẩy chân tay, động kinh.

      9. Giảm huyết áp : 
      Bổ sung các tinh chất có trong Sả sẽ có hiệu quả trong việc giảm huyết áp. Nó làm tăng tuần hoàn máu và giúp giảm bớt tất cả các vấn đề của huyết áp. Uống một ly nước trái cây có sả có thể làm giảm huyết áp.

      10. Giảm đau :
      Tinh chất Sả có thể làm giảm đau tất cả các loại viêm và các cơn đau nhức. Vì vậy, nếu có đau răng, đau cơ, đau khớp hay đau ở các bộ phận khác hãy uống trà sả rất hữu ích.

      11. Làm đẹp da :
      Chất Sả là một nguyên liệu không thể thiếu trong ngành công nghiệp mỹ phẩm vì nó có rất nhiều lợi ích cho da. Tinh dầu sả cải thiện chất lượng da như giảm mụn trứng cá và mụn nhọt. Nó cũng có tác dụng làm săn chắc các cơ và các mô trong cơ thể.

      12. Chữa ung thư :
      Theo phân tích của các nhà khoa học phương Tây và châu Á thì chất chiết suất từ cây Sả mạnh gấp 10.000 lần chất Adrimyacine dùng trong hóa trị chữa ung thư trong Tây y, nên cây Sả còn nấu nước uống thay cho hóa trị trong Tây y để chữa các bệnh ung thư, u, xơ…

      13. Xua đuổi côn trùng, tẩy uế :
      Bên cạnh đó, cây Sả còn có tác dụng xua đuổi được ruồi, muỗi, côn trùng, khử hết mùi xú uế, những nơi bị ô nhiễm môi trường độc hại, sát trùng. Tinh dầu Sả còn được dùng làm thuốc diệt trừ muỗi.


Cây Sả


CÂY VỐI
      Mô tả : Cây gỗ có kích thước trung bình. Lá bầu dục hay xoan ngược, thót nhọn ở gốc, có mũi ngắn ở đầu, nhạt màu, và hơi có chấm nâu trên cả hai mặt, dài 8-9cm, rộng 4-8cm. Hoa gần như không cuống, thành cụm hoa hình tháp trải ra ở nách những lá đã rụng. Quả hình cầu hay hình trứng, đường kính 7-12mm, nhám, nhớt.

      Phân bố : Cây Vối mọc hoang và được trồng khắp nơi ở miền Bắc nước ta để lấy lá nấu nước uống như lá chè. Ra hoa tháng 6-7.

      Bộ phận dùng : Lá, vỏ thân, nụ hoa. Thông thường dùng tươi, nhưng cũng có thể phơi khô để dùng dần.

      Công dụng : Ngoài việc dùng lá để nấu nước uống giải nhiệt  như lá chè, cây Vối còn phối hợp với các vị thuốc khác để chữa một số bệnh.

1.   Hỗ trợ điều trị gút (gout) :
      Lá vối được coi là cứu tinh với những người bị bệnh gout – “bệnh của nhà giàu”. Lá và nụ vối có công dụng giúp tiêu hóa thức ăn, nhất là thức ăn có nhiều dầu mỡ, giảm béo, lợi tiểu tiêu độc. Bệnh nhân gout là do ăn uống nhiều chất béo ngọt, ứ đọng nhiều chất uric. Mặt khác do hệ thống tiêu hóa và thận bài tiết đào thải không tốt dẫn đến uric ứ đọng ở các khớp gây nên tình trạng sưng, nóng, đỏ, đau khớp.
      Do vậy, nếu dùng thường xuyên lá và nụ vối có tác dụng hỗ trợ tiêu tích, làm tan các chất uric đào thải ra ngoài nên góp phần trong phòng ngừa, hỗ trợ điều trị bệnh gout.

2.   Nụ vối hỗ trợ trị tiểu đường :
      Một nghiên cứu gây chú ý là tác dụng của nụ vối trong việc hỗ trợ điều trị bệnh tiểu đường. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm và lâm sàng đã chứng minh các hợp chất flavonoid trong chè nụ vối rất hiệu quả trong việc hỗ trợ phòng và điều trị bệnh nhân tiểu đường.
      Người bệnh tiểu đường nếu thường xuyên uống chè nụ Vối sẽ giúp ổn định đường huyết, giảm mỡ máu, chống ôxy hóa tế bào, bảo vệ tổn thương tế bào beta tuyến tụy, phòng ngừa đục thủy tinh thể ở người bệnh tiểu đường và giúp tăng chuyển hóa cơ bản. Điều đặc biệt là uống nụ vối không có tác dụng phụ đáng kể nên có thể uống thường xuyên.

3.   Cải thiện hệ tiêu hóa :
      Theo Đông y, nụ và lá Vối có tính hàn mát, vị đắng không có độc, có tác dụng thanh nhiệt giải biểu (mồ hôi), kiện tỳ, tiêu thực trừ được ăn không tiêu, chữa được ngoại cảm phát sốt, sợ rét đau đầu.
      Chất đắng trong lá và nụ Vối kích thích nhiều dịch vị tiêu hóa. Mặt khác, chất tannin (là những hợp chất tự nhiên thuộc nhóm polyphenol phổ biến trong thực vật) trong lá Vối giúp bảo vệ niêm mạc ruột, chất tinh dầu có tính kháng khuẩn cao nhưng không gây hại cho những vi khuẩn có ích cư trú trong ống tiêu hóa. Vì vậy lá và nụ Vối kiện tỳ giúp ăn ngon, tiêu hóa tốt, chữa bệnh đại tràng mãn, chữa viêm gan.


Cây Vối


CÂY XA KÊ (cây Bánh mì)
      Mô tả :  Cây Xa kê có thân gỗ cao đến 15 mét, có mủ trắng. Lá dài đến 1m, có khía sâu thành 3-9 thùy, rất nhám ở mặt dưới, lá kèm vàng mau rụng, dài 12-13cm. Bông đực dài 20cm, có 1 nhụy. Quả phức hình cầu màu xanh rồi chuyển hơi vàng, to bằng quả mít, có nạc trắng, không ngọt nhưng nhiều bột.

      Phân bố : Cây Xa kê có nguồn gốc từ Indonesia và New Ghiné, được trồng phổ biến ở miền Nam Việt Nam và nhiều nơi khác.

      Bộ phận dùng : Rể, vỏ, lá. Thịt có thể ăn được, có nhiều bột dùng làm bánh như khoai tây, hay cắt lác chiên hay luộc ăn rất ngon.

      Công dụng : Các bộ phận như trái, rễ, lá, vỏ và cả nhựa của cây Xa kê đều có nhiều dược tính, nên được y học, dân gian dùng làm các bài thuốc trị bệnh. Theo Đông y, thịt của quả Xa kê có tác dụng bổ tỳ, ích khí. Còn hạt Xa kê thì có tác dụng bổ trung ích khí, lợi trung tiện. Vỏ cây có tác dụng sát trùng. Còn lá Xa kê có tác dụng kháng sinh, tiêu viêm lợi tiểu.
      Lưu ý : người không có bệnh thì không nên tự ý dùng lá Xa kê nấu uống thường xuyên.
MỘT SỐ BÀI THUỐC CÓ CÂY XA KÊ
1.   Chữa mụn rộp, sưng hang, nhọt, áp xe :
      Lá Xa kê thường được đốt thành than, tán mịn, phối hợp với dầu dừa và nghệ tươi, giã nát, làm thành bánh để đắp chữa mụn rộp. Hoặc dùng lá Xa kê và lá đu đủ tươi, lượng bằng nhau, giã với chút vôi ăn trầu cho đến khi có màu vàng, dùng để đắp chữa sưng háng, mụn nhọt, áp xe.
2.   Chữa bệnh gout (gút) :  
      Người bệnh gút (gout) hay bị sỏi thận có thể lấy lá Xa kê già, còn tươi độ 100g, quả dưa leo 100g, cỏ Xước khô 50g. Cho cả 3 loại vào nồi nấu lấy nước dùng.
3.   Chữa viêm gan :
      Những người bị viêm gan vàng da, có thể dùng lá Xa kê còn tươi chừng 100g, Diệp hạ châu tươi 50g, củ Móp gai tươi 50g, cỏ Mực khô 30g. Tất cả đem nấu chung để lấy nước uống trong ngày thay nước.
4.   Chữa tiểu đường :
      Những người bị bệnh tiểu đường dạng 2 có thể dùng lá Xa kê đã già chừng 100 gr, quả đậu bắp tươi 100g, lá ổi non 50g. Tất cả đem nấu chung để lấy nước uống hằng ngày. Có thể uống thường xuyên.
5.   Chữa đau răng :
      Để chữa cơn đau tạm thời trước khi đến khám ở nha sĩ, có thể lấy rễ cây Xa kê đem nấu nước thật đậm ngậm và súc miệng.
6.   Chữa tăng huyết áp :
      Những người bị tăng huyết áp dao động, dùng 2-3 lá Xa kê vàng vừa rụng, rau bồ ngót tươi 50g, lá chè xanh tươi 20g, đem tất cả rửa sạch nấu chung lấy nước uống thay nước trong ngày. Có thể uống liên tục.  


Cây Xa kê (cây Bánh mì)

*** TẠM HẾT ***
    
                                                                                         Phú Ninh-Quảng Nam, tháng 12-2015
                                                                                   NGUYÊN CHƯƠNG

TÀI LIỆU THAM KHẢO
      - Trên mạng internet,
      - Bộ sách Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của Giáo sư Tiến sĩ Đỗ Tất Lợi,
      - Bộ Tự điển Cây thuốc Việt Nam của Phó tiến sĩ Võ Văn Chi,
      - Tạp chí Số tay y học,
      - Báo Dân trí,
      - Báo Thanh Niên,
      - Báo Tuổi Trẻ,
      - Báo Tuổi trẻ & Đời sống,
      - Báo Khoa học & Đời sống,
      - Báo Luật pháp & Gia đình,
      - Báo Người Lao động,
      - Báo Tiền phong,
      - Báo An ninh Thủ đô,
      - Báo An ninh thế giới,
      - Báo Đà Nẵng điện tử…




Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét