Một số
CÂY THUỐC NAM
Thông dụng
NGUYÊN CHƯƠNG
Sưu tầm
LƯU HÀNH NỘI BỘ
(sách tặng
không bán)
TỊNH THẤT NGUYÊN CHƯƠNG
Tổ 2, thôn Khánh An, xã Tam Dân, huyện Phú Ninh,
Tỉnh Quảng Nam
PHÁT HÀNH LẦN THỨ 1
(12-2015)
ĐÔI LỜI TÁC
BẠCH
Mấy năm qua, chúng tôi đã
lần lượt phát hành 10 bộ sách mỏng gởi tặng thập phương, gồm 6 tập “Những
bài thuốc Nam dân gian hiệu nghiệm” từ số 1 đến số 6, và 4 tập sách đặc
biệt : Địa long thần dược cứu mạng; Giấm táo–Mật ong thần dược chữa bệnh, sống
lâu; cây Cần sen thần dược chữa bệnh; những phương thuốc thần chữa bệnh ung
thư.
Được sự khuyến khích động
viên của quý chư liệt vị, chúng tôi tiếp tục không ngừng sưu tầm nghiên cứu các
bài thuốc mới với những vị thuốc dễ tìm để giúp người bệnh khắp nơi có điều kiện
chữa bệnh dễ dàng, ít tốn kém nhưng hiệu quả cao. Sưu tầm được bài nào chúng
tôi cho chữa thử nghiệm, điều chỉnh liều lượng thuốc đến khi có kết quả tốt. Chúng
tôi thường phát hành những bài thuốc hay nhất trên tờ rơi để phục vụ kịp thời
nhu cầu chữa những bệnh cấp thời. Khi đủ số lượng chúng tôi sẽ phát hành tập số
7.
Nay chúng tôi xin giới thiệu tập sách nhỏ “MỘT SỐ CÂY THUỐC NAM THÔNG
DỤNG”. Trong mỗi gia đình nên trồng
những cây thuốc nầy xem như có một vị thầy thuốc Nam thường trực trong nhà, sẽ
tự chữa được những bệnh thường gặp nhất, không cần phải đi xa. Vì trong hoàn cảnh
hiện nay, ở nước ta thuốc Nam được xem là vị thuốc hiệu quả nhất được đa số người
dân tin dùng, nhất là những người nghèo không đủ điều kiện đến bệnh viện, hay ở
quá xa nhà thương, y bác sĩ. Theo kinh nghiệm dân gian, trồng thuốc Nam trên đất
tự nhiên dược tính cao hơn trồng trong chậu kiểng, nên nhà nào có đất, nhất là vùng
nông thôn, nên tranh thủ trồng cây thuốc Nam, hái phơi khô để dành, để vừa tự
chữa bệnh vừa giúp người chung quanh, là việc làm công đức rất thù thắn. Ví như
bông Đu đủ đực phối hợp với các vị thuốc khác chữa bệnh ung thư và một số bệnh
khác rất hay, nhưng hiện nay tìm rất khó, vì khi gieo giống mọc lên thấy cây đực
(là cây thân ốm, lá nhỏ) người ta thường
nhổ bỏ đi, chỉ để lại cây cái để lấy quả.
Dù xây chín bậc phù đồ,
Không bằng làm phúc giúp
cho một người.
Mong
quý vị đón nhận với sự tin tưởng cao để tiện lợi tham khảo trong việc trồng cây
thuốc, chữa bệnh và giúp chúng tôi giới thiệu đến mọi người.
Mọi ý kiến đóng góp, bổ
sung, hay có nhu cầu về sách thuốc do chúng tôi phát hành, xin quí vị vui lòng
liên hệ qua số điện thoại : 0983.710.463 – 0908.694563 (Nguyên Chương), địa chỉ : TỊNH THẤT NGUYÊN
CHƯƠNG, tổ 2, thôn Khánh An, xã Tam Dân, huyện Phú Ninh, tỉnh, Quảng Nam, chúng
tôi sẽ rất hoan hỷ tiếp thu, hoặc gởi sách đến tận nơi kính biếu.
Nhân đây, xin chân thành cảm
ơn Giáo sư Tiến sĩ Đỗ Tất Lợi, Phó tiến sĩ Võ Văn Chi, một số cơ quan báo chí,
phương tiện truyền thông, một số tác giả trên mạng internet đã tạo duyên cho
chúng tôi trích dẫn một số tài liệu liên quan để thực hiện tập sách nhỏ nầy.
Xin hồi hướng tất cả công đức có được đến quý vị và gia đình.
Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật,
Nam Mô Thường Hoan Hỷ Bố Thí BồTát
Ma Ha -Tát.
NGUYÊN
CHƯƠNG
TÊN CÁC CÂY THUỐC ĐƯỢC SẮP XẾP
THEO MẪU TỰ A-B-C
*****
CÂY BỒ CÔNG ANH
Mô tả : Cây Bồ công anh hình như có nguồn gốc từ Mỹ, vì nghe nói
các vùng quê ở Mỹ người ta trồng rất nhiều hái làm rau ăn và làm thuốc chữa bệnh.
Đến mùa hoa nở phấn hoa bay tản trong không khí, hít phải sẽ bị dị ứng mũi làm
hắc hơi sổ mũi.
Ở
Việt Nam có cây Mũi mác tương tự, chất lượng làm thức ăn và làm thuốc cũng
không kém gì cây Bồ công anh Mỹ, nên gọi là cây Bồ công anh Việt Nam.
Phân
bố : Bồ công anh được chia làm 4 loại chính :
- Bồ công anh
hoa lam : cây cao 50-100cm, thân phân nhánh, chủ yếu
nhập về,
- Bồ công anh
lùn : Lá mọc chùm dưới đất, hoa mọc ở giữa chùm
lá,
- Bồ công anh
mũi mác : Cây cao mọc đứng, cao tới 2m, ít phân nhánh,
mọc nhiều nơi ở miền núi và trung du nước ta.
- Bồ công anh
Trung hoa : Có chủ yếu ở miền núi phía Bắc nước ta và ở
Trung Quốc, Mỹ.
Bộ phận dùng : Toàn cây.
Công
dụng : Bồ công anh nói chung chữa được các bệnh sau đây :
1. Chữa mắt đỏ sưng đau : Bồ công
anh 40g, Dành dành 20g, sắc với 6 chén nước còn 2 chén, chia 2 uống 2 lần trong
ngày.
2. Chữa rắn, bọ cạp cắn, ong đốt :
Bồ công anh tươi giã nát đắp vào vết thương ngày 3 lần.
3. Chữa đau dạ dày: Lá Bồ công anh khô 20g, lá Khôi
15g, lá Khổ sâm l0g, đổ vào 5 chén nước đun sôi trong vòng 15 phút, thêm đường,
chia 3 lần uống trong ngày. Uống liên tục trong vòng 10 ngày. Nghỉ 3 ngày rồi
lại uống tiếp tục từng đợt cho đến khi khỏi bệnh.
4. Chữa lành mụn nhọt, mụn mau vỡ mủ:
Lá Bồ công anh tươi phối hợp với lá Phù dung, rể Vông vang hoặc rể Gai, giã đắp
ngày vài lần.
5. Viêm vú cấp tính : Bồ
công anh tươi 60g, sắc với 4 chén nước còn 1,5 chén,chia 2 uống ngày 2 lần.
6. Chữa
sưng đau vú : Bồ công anh 120g, Sài đất 80g, lá Quít hôi
40g, sắc với 6 chén nước còn 2 chén, chia 2 uống 2 lần trong ngày.
7. Chữa ung thư vú : Bài thuốc
sau đây đã chữa cho nhiều người lành bệnh : Bồ công anh khô 40g, Hạ khô thảo 35g,
Kim ngân hoa 20g. Tất cả sắc nước 1 với 5 chén nước còn 1,5 chén, sắc nước 2 với
5 chén nước còn 1 chén. Hòa chung chia 3 uống 3 lần trong ngày trước 3 bữa ăn
chính. Uống liên tục cho đến khi hết bệnh.
Cây Bồ công anh
CÂY CHÓ
ĐẺ
Mô tả : Cây Chó đẻ còn có tên gọi : Răng cưa, Cam kiềm, Rút đất.
Tên khoa học Phyllanthus urinaria.
Cây thảo sống hằng năm hay sống dai, cao 20-30cm, có thân
màu đỏ, thường phân nhánh nhiều, nhánh có góc, có cánh. Lá mọc so le, xếp hai
dãy sít nhau, do đó nom mỗi nhánh như một lá kép lông chim, mỗi lá có hình bầu
dục hay hình xoan ngược, mặt trên màu xanh nhạt, mặt dưới mốc mốc. Hoa mọc ở
nách lá, hoa đực mọc ở ngọn cành hoa, hoa cái đơn độc ở gốc cành hoa, tất cả hầu
như không cuống hoặc có cuống ngắn. Quả nang hơi đỏ, hình cầu đường kính 2mm,
có gai nhỏ, chứa 6 hạt hình tam giác màu chocola nhạt.
Phân
bố : Mọc hoang ở bãi cỏ, đồng ruộng, đất hoang, mọc khắp nơi. Mùa hoa
quả tháng 4-10.
Bộ phận
dùng : Toàn cây.
Công
dụng : Cây Chó đẻ có vị ngọt, hơi đắng, tính mát, điều trị các bệnh sau
đây :
1. Bệnh viêm gan B :
Sắc cây Chó đẻ lấy
nước uống hằng ngày thay nước. Sau khoảng 4-5 tháng điều trị, bệnh nhân đã giảm
hoặc mất đi các triệu chứng lâm sàn có ở viêm gan B, đồng thời phục hồi chức
năng gan một cách đáng kể. Chữa men gan tăng cao, máu nhiễm mỡ, gan nhiễm mỡ, trợ giúp tiêu hóa, giúp giải nhiệt, giải
độc gan do rượu bia.
2. Bảo vệ và phục hồi chức năng gan :
Cây Chó đẻ có tác
dụng rất tốt trong việc kháng virus viêm gan B và ngăn ngừa được bệnh. Vì thế,
với những ai mới được phỏng đoán bị viêm gan giai đoạn đầu, hoặc dòng họ có
người bị bệnh gan và lo sợ mình cũng sẽ mắc bệnh, thì nên uống cây Chó đẻ hằng
ngày càng sớm càng tốt để ngăn ngừa bệnh gan hoành hành.
3.
Giảm béo hiệu quả :
Bên cạnh tác
dụng trị bệnh gan, khi kết hợp cây thảo dược này với lá Sen còn đem
lại tác dụng hiệu quả trong
việc giảm cân rất hiệu quả, bằng cách nấu nước uống hằng ngày thay nước.
Ngoài ra, cây Chó đẻ
còn chữa những bệnh nặng như: vàng da, bệnh lậu, viêm đại tràng, viêm phế
quản, viêm âm đạo, u đau đớn kéo dài,... Và cả những bệnh nhẹ như: hen, sốt li
bì, viêm họng, ăn khó tiêu,...Không những thế, cây còn có thể sử dụng để đắp,
chữa tại chỗ cho các bệnh ngoài da như: lở loét, ngứa ngáy, sưng hoặc phù nề.
Và còn được coi là dược phẩm tốt cho việc lợi tiểu, tiêu độc, sát trùng, tồn ứ,
thông huyết, điều kinh, hạ nhiệt,...
ĐƠN
THUỐC CÓ CÂY CHÓ ĐẺ
1. Nhọt độc, sưng đau :
Một nắm cây Chó đẻ
rửa sạch, giã nhỏ với một ít muối sống, thêm vào một ít nước sôi để nguội trộn
đều rồi vắt lấy nước uống, còn xác đắp vào chỗ vết thương ngày một lần.
2. Bị thương, đứt chảy máu :
Cây Chó đẻ rửa sạch,
giã nhỏ với ít muối sống đắp vào chỗ đau ngày một lần.
3. Bị thương ứ máu, bầm :
Cành và lá Chó đẻ và
Mần tươi mỗi thứ một nắm, giã nhỏ, thêm 10g bột Đại hoàng càng tốt, hòa nước
tiểu trẻ con dưới 6 tuổi vào, vắt lấy nước uống, xác đắp vào chỗ đau ngày một
lần.
4. Mắt đau sưng đỏ, viêm gan vàng da, viêm thận, đái ra máu, viêm ruột
đi cầu ra toàn nước :
Chó đẻ 40g, Mã đề 20g, Dành dành 12g. Sắc nước 1 với 4 chén nước
còn 1 chén, sắc nước 2 với 4 chén nước còn 8 phân, 2 nước hòa chung chia 2 uống
2 lần trong ngày trước bữa ăn sáng và tối. Uống liên tục nhiều ngày.
5. Lở loét thối thịt không liền miệng :
Lá Chó đẻ, lá Thồm lồm hai thứ bằng nhau, Đinh hương 1 nụ. Giã
nhỏ đắp vào vết thương ngày 1 lần.
6. Trẻ em tưa lưỡi :
Giã cây Chó đẻ tươi
vắt lấy nước bôi vào lưỡi trẻ ngày vài lần.
7. Sản hậu ứ huyết :
Mỗi ngày lấy 15g cây
khô rửa sạch sắc nước uống đến khi hết bệnh.
Cây Chó đẻ
CÂY CHÙM
NGÂY
Mô tả : Cây gỗ nhỏ cao tới 10m. Lá
kép, thường là ba lần lông chim, có 6 đến 9 đôi lá chét hình trứng, mọc đối.
Hoa trắng, có cuống hơi giống hoa Đậu, mọc thành chùy ở nách lá, có lông tơ. Lá
bắc hình sợi, lá đài 5, thuôn, gập cong. Cánh hoa 5, hình thìa, nhụy sinh sản
5, bầu thượng, 1 ô, có lông. Ra hoa vào tháng giêng, tháng 2. Quả nang treo, có
3 cạnh, dài 25-30cm, hơi gồ lên ở chỗ có hạt, khía rảnh dọc. Hạt màu đen, to bằng
hạt đậu Hà Lan, tròn, có 3 cạnh và 3 cánh dạng màng.
Phân bố : Cây mọc nhiều ở Ấn Độ, lan
ra các nước nhiệt đới. Ở Việt Nam thấy có ở Hà Nội, Khánh Hòa, Bình Thuận, và một
số nơi khác, được các gia đình trồng làm rau ăn và làm thuốc.
Bộ phận dùng : Rể, thân, nhánh, lá.
Thành phần hóa học : Toàn thân cây
Chùm ngây chứa một chất kháng khuẩn có tác dụng đối với vi khuẩn gram+ và gram-
và cả vi khuẩn ưa acid. Hạt chứa hơn 33% một thứ dầu không màu, ăn được và dùng
trong hương liệu để định hương một số hoa.
Công dụng :
1. Rể có tính kích thích, chuyển máu,
gây trung tiện, làm dễ tiêu hóa, trợ tim và bổ tuần hoàn, có tác dụng tốt với hệ
thần kinh.
2. Quả có tác dụng giảm đau, hạt làm
dịu cơn đau, trị bệnh đau gan, tì, đau khớp, sài, uốn ván, chứng liệt.
3. Hoa kích thích sinh lý.
Nhựa từ thân cây chảy ra màu trắng, có
tác dụng giảm đau.
4. Lá, hoa, quả non có thể dùng làm
thức ăn nhưng phải nấu chín.
5. Rể và vỏ dùng như chất kích thích
để trị các cơn đau do liệt và sốt thần kinh, trị thấp khớp mạn tính, trợ tim, bồi
bổ tuần hoàn, còn dùng để gây sẩy thai. Cũng dùng cho phụ nữ sau khi sinh uống
cho lại sức.
6. Hạt dùng trị bệnh hoa liễu. Dầu từ
hạt thoa ngoài trị thấp khớp.
7. Nhựa từ thân cây chảy ra trị đau
răng, phối hợp với dầu mè nhỏ trị đau lỗ tai.
8. Hạt có khuynh hướng từ tính hút
được vi khuẩn, virus, các sinh vật nhỏ trong nước, do đó có thể nghiền nát bỏ
vào nước làm cho nước trong sạch để lắn nấu ăn uống được.
Cây Chùm ngây
CÂY CỎ
CÚ
Mô tả : Cây Cỏ Cú còn gọi là cỏ Gấu, củ gọi là Hương phụ. Cây có
thân rể nằm dưới đất, hình chỉ, từng đoạn phình to thành củ, từ đó mọc lên
thành thân cây, cao 10-60cm, hình tam giác. Lá dài bằng thân, không có lưỡi. Cụm
hoa đơn hay kép, có 3-5 lá bắc, tỏa rộng ra dài hơn cộng hoa. Các bông có trục
nhẵn mang 3-20 bông chét, mỗi bông chét có khoảng 30 hoa, trục bông chét có
cánh. Vảy hoa hình trái soan, tù. Quả bế có 3 cạnh màu đen nhạt.
Phân
bố : Mọc hoang phổ biến khắp Việt Nam và một số nước, rất dễ phát triển.
Bộ phận
dùng : Thân củ. Có thể đào thu hoạch quanh năm. Củ phơi khô, để nguyên,
hoặc chia ra 4 phần bằng nhau rồi ngâm riêng mỗi phần qua một đêm mỗi phần với giấm,
nước tiểu trẻ con, muối sống, rượu, rồi trộn chung lại thành tứ chế gọi là
Hương phụ.
Công
dụng : Hương phụ có vị cay, hơi đắng, ngọt, tính ấm. Có tác dụng hành
khiếu, thông kinh, khai uất, tiêu sưng, giảm đau.
BÀI THUỐC CÓ CÂY CỎ CÚ
1.
Ðau dạ dày :
Hương
phụ 30g, Riềng 15g, tán thành bột mịn. Uống 3g với nước ấm, hai lần trong ngày.
2.
Kinh nguyệt không đều, bế kinh :
Hương
phụ sao 9g, Ích mẫu thảo 20g, đường đỏ 20g. Sắc riêng từng vị với 2 chén nước
còn ½ chén, gạn bỏ bã, trộn chung lại, hòa đường đỏ uống, ngày 1 thang, uống
liên tục 3-5 ngày.
3. Điều kinh, kinh nguyệt không đều,
đau bụng kinh, khí huyết kém :
Hương
phụ 20g, Ích mẫu 15g, lá Ngải cứu 10g, Nhân trần 15g, sắc với 5 chén nước nước
còn 1 chén, uống 1 lần, ngày một thang.
4. Ðiều kinh :
Hương
phụ 3g, Ích mẫu 3g, Ngải cứu 3g, Bạch đồng nữ 3g, sắc với 5 chén nước còn 1,5
chén, chia 3 lần uống trong ngày. Muốn cho kinh nguyệt đều, uống đón kinh 10
ngày trước ngày dự đoán có kinh.
5. Có thai nôn mửa :
Hương
phụ 6g, Hoắc hương 10g, Cam thảo 3g. Sắc với 4 chén nước còn 1 chén, uống 1
lần, ngày 1 thang, uống 3-5 ngày.
6. Xuất huyết tử cung, máu rỉ không
dứt, bụng dưới đau :
Hương
phụ, Ngũ linh chi sao, Huyền hồ sao giấm, mỗi vị đều 12g, Mai mực nướng 5g. Tất
cả tán bột, mỗi lần uống 10g với rượu, ngày 2 lần, cử ăn thức sống lạnh.
7. Đau lưng do sỏi thận, viêm phì đại
đốt sống:
Hương phụ sống (không sao chế) 60g, sấy
khô, tán bột mịn, uống mỗi lần 4g với nước nguội, ngày 3 lần trong 3-5 ngày.
8. Viêm tuyến vú :
Hương
phụ tươi, Chua me đất hoa vàng tươi, Rau má tươi, các vị bằng nhau, lượng vừa
đủ giã nát đắp vào chỗ đau.
9. Mụt cóc :
Hương
phụ 30g, Mộc tặc 30g, Ô mai 30g, Sắc 2 lần, bõ bã, lấy nước đang nóng, ngâm
hoặc tẩm gạc đắp lên chỗ mụt cóc chừng nửa giờ, ngày 2-3 lần, liên tục trong 5
ngày.
10. Di mộng tinh lâu ngày không khỏi :
Hương
phụ không sao chế 500g, Phục thần (hoặc Phục linh) 180g. Dùng nước vo gạo ngâm
Hương phụ 1 đêm, phơi khô, chà xát bỏ lông. Lần lượt đem tẩm 4 thứ (theo đúng
thứ tự): rượu lâu năm, nước tiểu trẻ em, nước muối, sữa bò, đều để qua 1 đêm
rồi phơi khô. Sau cùng tán bột chung với Phục thần, luyện mật làm hoàn. Mỗi lần
uống 4g với nước muối nhạt vào lúc sáng sớm.
Cây cỏ Cú
CÂY CỎ
MỰC
Mô tả : Còn gọi là cỏ Nhọ nồi (Lọ
nồi). Cây thảo mọc hằng năm, thân cao 30-70cm phủ lông tơ dày, màu đỏ nâu.
Lá hình ngọn giáo dài 3-6cm, rộng 0,5-1cm, mép có răng cưa thưa, có hai mặt phủ
lông tơ, cuống ngắn. Cụm hoa đầu cao 6-7cm, rộng 5-6cm, trên cuống mảnh, dài 2-3,5cm.Tổng bao có một hàng lá bắc hình bầu
dục thuôn, có lông ở mặt lưng và ở mép. Đế hoa rộng 5cm. Các hoa ở mép là hoa
cái có hình dạng lưỡi, màu trắng, các hoa ở giữa là hoa lưỡng tính có ống tràng
màu xanh nhạt ở đầu có 5 thùy ngắn. Quả bế dài 3mm, màu đen, không có mào lông.
Phân
bố : Cỏ Mực mọc ở ruộng ẩm, bãi hoang, ven đường, có ở nhiều nơi nước
ta.
Bộ phận
dùng : Toàn cây.
Công dụng : Cỏ Mực có vị chua, tính mát, có tác dụng lương huyết, chỉ
huyết, thanh nhiệt, giải độc, đắp vết thương, chữa sốt xuất huyết.
MỘT SỐ BÀI THUỐC CÓ CỎ MỰC
1.
Chữa mề
đay :
Cỏ mực, rau Diếp cá, lá Xương sông, lá
Huyết dụ, lá Khế, lá Dưa chuột, lá Nhài, lá Cải trời giã nát, chế nước vào, vắt
lấy nước uống, bã dùng xoa ngoài.
2. Chữa
mộng tinh :
Cỏ Mực sấy khô, tán nhỏ, uống mỗi lần 8g
với nước cơm, hoặc 30g sắc nước uống.
3. Chữa
sốt xuất huyết nhẹ, sốt phát ban, phong nhiệt nổi mẩn :
Cỏ Mực, rau Sam, Sài đất, Huyền sâm, Mạch
môn, Ngưu tất mỗi vị 10-15g. Sắc uống ngày một thang.
4. Chữa
sốt phát ban :
Cỏ Mực 60g. Sắc với 5 chén nước còn 1,5
chén, chia 2 uống 2 lần trong ngày.
5. Chữa sốt cao :
Cỏ Mực 20g, Sài đất 20g, củ Sắn dây 20g,
cây Cối xay 16g, Ké đầu ngựa 12g, Cam thảo đất 16g. Sắc với 5 chén nước còn 1,5
chén, chia 2 uống 2 lần trong ngày, ngày một thang.
6. Chữa
khạc ra máu :
Cỏ Mực 6g, rễ cỏ tranh 40 g, thêm ít thịt
heo nạc, ninh lấy nước uống.
7. Chữa
chảy máu cam :
Cỏ Mực 20g, hoa Hòe sao đen 20g, Cam thảo
đất 16g. Sắc với 5 chén nước còn 1,5 chén, chia 2 uống 2 lần trong ngày, ngày
một thang.
8.
Chữa tiêu chảy ra máu :
Cỏ Mực đem sấy khô trên miếng ngói, tán
bột, uống mỗi lần 6 g với nước cháo.
9. Chữa
viêm họng :
Cỏ Mực 20g, Bồ công anh 20g, củ Rẻ quạt
12g, Kim ngân hoa 16g, Cam thảo đất 16g. Sắc với 5 chén nước còn 1,5 chén, chia
2 uống 2 lần trong ngày, ngày một thang.
Cây cỏ Mực
CÂY DỨA
(Cây Thơm, Khóm)
Mô tả : Cây có thân ngắn, lá mọc thành hình hoa thị, cứng, dài, ở
mép có răng như gai nhọn dày gọi là Khóm, có khi thưa gọi là Thơm. Khi cây trưởng
thành thì từ chùm lá đó mọc ra một thân dài 20-40cm, mang một bông hoa, tận
cùng bằng một chùm lá nhỏ. Bông gồm nhiều hoa, mỗi hoa mọc ở nách một lá bắc
màu tím, các hoa nầy dính nhau. Khi hình thành quả thì các lá bắc nầy mọng nước
tụ họp với trục bông hoa thành một quả mọng kép có màu vàng hay gạch cua. Các
quả thật thì nằm trong các mắt dứa.
Phân
bố : Cây Dứa gốc ở Brasil, được trồng phổ biến khắp nơi làm thức ăn, nước
giải khát, và làm thuốc chữa bệnh.
Bộ phận
dùng : Quả, nỏn cây và rể cây.
Công
dụng : Quả Dứa có vị chua ngọt, tính bình. Ngoài việc dùng làm thức ăn
uống, cây Dứa còn có tác dụng chữa nhiều bệnh rất hiệu quả :
1.
Chữa sốt nóng :
Lấy nỏn Dứa 30-40g, rửa sạch, cắt nhỏ, giã vắt lấy nước
chia 2 uống 2 lần trong ngày sau các bữa ăn sáng và tối.
Hoặc lấy 1 quả Dứa giã nát, vắt lấy nước, thêm vào ít nước sôi để nguội
uống vài ba lần hết trong ngày.
2.
Chữa tiểu tiện không thông, đái ra sỏi :
Dùng rể cây Dứa 30-40g, rửa sạch, sắc với 6 chén nước sôi
còn 1,5 chén, chia 2 uống 2 lần trong ngày sau
các bữa ăn sáng và tối.
3.
Viêm ruột, tiêu chảy :
Lấy
30g lá Dứa rửa sạch, cắt nhỏ, sắc với 4 chén nước sôi còn 1 chén, uống 1 lần
trong ngày sau khi ăn. Dùng vài ngày hết bệnh.
4.
Viêm thận :
Lấy
quả Dứa già cắt ra 60g, rể cỏ Tranh tươi 30g, rửa sạch, nấu với 4 lít nước còn
2 lít, uống thay nước trong ngày.
5.
Viêm phế quản :
Quả Dứa già 120g, mật ong 30g, lá Tì bà (Tì bà diệp) 30g. Rửa sạch, nấu với 4 lít nước sôi còn 2 lít, uống thay
nước trong ngày.
6.
Rối loạn tiêu hóa :
Lấy
1 quả Dứa, 2 quả Quít, rửa sạch ép lấy nước uống hết trong ngày.
7.
Sỏi thận, mật, bang quang :
Ép lấy
nước 1 trái Dứa, pha vào 2 muỗng canh mật ong rừng, chưng cách thủy cho sôi chừng
5 phút. Uống 1 lần trong ngày sau khi ăn. Uống liên tục ít ngày sạn sẽ tiêu.
Cây Dứa (Thơm, Khóm)
CÂY ĐINH
LĂNG
Mô tả : Cây Đinh
lăng còn gọi là cây Gỏi cá. Cây nhỏ dạng bụi,
cao 1,5-2m. Thân nhẵn, ít phân nhánh, các nhánh non có nhiều lỗ bì lồi.
Lá kép mọc so le có bẹ, phiến lá xẻ 3 lần lông chim, mép có răng cưa không đều,
chóp nhọn, lá chét và lá nhọn đều có cuống. Cụm hoa chùy ở ngọn, gồm nhiều tán.
Hoa nhỏ màu trắng xám. Quả hình trứng, dẹt, màu trắng bạc.
Phân
bố : Cây có nguồn gốc từ các đảo Thái bình dương, được trồng chủ yếu để
làm cảnh, trồng bằng cách giâm nhánh, chọn những nhánh già, cắt ngắn chừng
15-20cm, cắm nghiên như trồng sắn. Trồng vào tháng 2-4 hay tháng 8-10.
Bộ phận
dùng : Rể, thân và lá.
Công
dụng : Rể Đinh lăng có vị ngọt, tính bình, lá vị nhạt hơi đắng, tính
bình. Có tác dụng bổ ngũ tạng, bổ huyết, giải độc, tăng sữa, tiêu thực, tiêu
sưng viêm, tăng lực, phụ nữ sau sinh ít sữa, chữa phong thấp, đau lưng…
MỘT SỐ BÀI THUỐC CÓ ĐINH LĂNG
1.
Chữa sưng đau cơ khớp, vết thương :
Giã nhuyễn 40g lá Đinh
lăng tươi, trộn thêm ít rượu đắp vết thương hay chỗ sưng đau.
2. Trẻ bị co giật, ngủ hay giật mình :
Phơi khô lá Đinh lăng, cho vào gối hay trải giường cho bé nằm.
3. Tăng sức dẻo dai cơ thể :
Rể cây Đinh lăng có tác dụng làm tăng sức dẻo dai của cơ thể trên
thí nghiệm cấp tính tương tự như nhân sâm. Sắc uống hằng ngày.
4. Bồi bổ cơ thể :
Rễ cây Đinh lăng thái mỏng 15gam, đun sôi 15 phút với 300ml nước,
chia uống 2-3 lần/ngày có tác dụng bồi bổ cơ thể, giảm tình trạng mệt mỏi, lười
hoạt động.
5. Chữa tắc tia sữa hiệu quả :
Lấy 30-40g rễ cây Đinh
lăng, sắc với 5 chén nước còn 1,5 chén, chia 2 uống nóng 2 lần trong ngày. Uống
luôn 2-3 ngày, có tác dụng thông tia sữa, giảm căng vú sữa, vú hết nhức.
6. Chữa đau lưng mỏi gối :
Lấy 20-30g thân và
cành Đinh lăng, rễ cây Xấu hổ, Cúc tần và Cam thảo dây, sắc lấy nước, uống 3
lần mỗi ngày.
7. Chữa ho suyển lâu năm :
Lấy 8g mỗi loại gồm rễ
Đinh lăng, rễ cây Dâu, Bách bộ, Nghệ vàng, đậu Săn, rau Tần dày lá, 6g củ Xương
bồ, 4g Gừng khô, sắc với 5 chén nước còn 1,5 chén, chia 2 uống 2 lần trong ngày.
Uống lúc còn nóng, mỗi ngày 1 thang.
8. Chữa dị ứng, ban sởi, ho, kiết lị :
Lá Đinh lăng phơi khô
10gr, sắc với 2 chén nước còn 1 chén, chia uống 2 lần trong ngày.
Cây Đinh lăng
CÂY (dây) GẤC
Mô tả : Cây dạng dây leo sống nhiều năm, ít nhánh, dài đến vài chục
mét. Lá mọc so le, phiến xẻ sâu 3-5 thùy.
Hoa mọc riêng lẻ ở nách lá. Hoa đực có lá bắc to, tràng hoa màu vàng.
Hoa cái có lá bắc nhỏ. Quả to, có nhiều gai, khi chín có màu gạch đến đỏ thẫm.
Hạt dẹt cứng màu đen. Người ta còn dựa vào độ sai của quả nhiều hay ít, kích
thước của quả to hay nhỏ, gai của quả nhặt hay thưa, màu sắc của ruột quả đỏ
hay vàng gạch, chất béo ít hay nhiều, số lượng hạt nhiều hay ít để chia ra Gấc
tẻ (Gấc giun) hay Gấc nếp (Gấc gạch).
Phân
bố : Dây Gấc được trồng khắp nơi ở Việt Nam và một số nước khác, làm
giàn như giàn bí bầu, hay cho leo lên hang rào.
Bộ phận
dùng : Hạt lấy màng đỏ bao quanh để ép dầu, thịt trái Gấc có vị béo để
nấu xôi Gấc ăn rất ngon. Rể và lá phơi khô để làm thuốc chữa bệnh.
Công
dụng : Hạt Gấc có vị đắng, hơi ngọt, tính ấm, có độc, có tác dụng tiêu
tích, lợi trường, tiêu thủng, sinh cơ, tiêu sưng. Rể Gấc có vị hơi đắng, mùi
thơm, tính mát, có tác dụng trừ thấp nhiệt, hoạt huyết, lợi tiểu. Dầu Gấc có vị
ngọt, tính bình, có tác dụng bổ tì, làm sáng mắt.
BÀI THUỐC CÓ CÂY (dây) GẤC
1. Bổ sung Vitamin giúp đôi mắt sáng đẹp :
Trong dầu gấc chứa khá nhiều hàm lượng Beta carotene là tiền sinh tố của Vitamin A. Chất này khi vào cơ thể sẽ chuyển thành vitamin A, loại vitamin tuyệt vời đối với mắt. Nếu học sinh sinh viên hay thức khuya ôn bài, hoặc làm việc lâu trước máy vi tính, mỏi mắt, nhức mắt… nên bổ sung dầu gấc thường xuyên để có một thị lực tốt hơn.
Trong dầu gấc chứa khá nhiều hàm lượng Beta carotene là tiền sinh tố của Vitamin A. Chất này khi vào cơ thể sẽ chuyển thành vitamin A, loại vitamin tuyệt vời đối với mắt. Nếu học sinh sinh viên hay thức khuya ôn bài, hoặc làm việc lâu trước máy vi tính, mỏi mắt, nhức mắt… nên bổ sung dầu gấc thường xuyên để có một thị lực tốt hơn.
2. Làm đẹp da, trị mụn trứng cá :
Trái Gấc chứa một lượng lớn các chất dinh dưỡng đáng khâm phục. Trong dầu Gấc chứa rất nhiều vitamin. Trong đó hàm lượng Lycopen, beta carotene, Alphatocopherol…cao gấp 68 lần cà chua. Trong lớp màng đỏ bao quanh hạt Gấc còn chứa rất nhiều vitamin E là chất chống oxy hóa, chống lão hóa tế bào. Các chất thiên nhiên này góp phần giữ gìn sự thanh xuân, chống sạm da, khô da, rụng tóc,...
Không chỉ vậy, hiện nay dầu Gấc còn được chiết suất để chữa các loại mụn trứng cá có nhân. Vì vậy, Gấc trở thành loại quả dùng trong công nghiệp mỹ phẩm.
Trái Gấc chứa một lượng lớn các chất dinh dưỡng đáng khâm phục. Trong dầu Gấc chứa rất nhiều vitamin. Trong đó hàm lượng Lycopen, beta carotene, Alphatocopherol…cao gấp 68 lần cà chua. Trong lớp màng đỏ bao quanh hạt Gấc còn chứa rất nhiều vitamin E là chất chống oxy hóa, chống lão hóa tế bào. Các chất thiên nhiên này góp phần giữ gìn sự thanh xuân, chống sạm da, khô da, rụng tóc,...
Không chỉ vậy, hiện nay dầu Gấc còn được chiết suất để chữa các loại mụn trứng cá có nhân. Vì vậy, Gấc trở thành loại quả dùng trong công nghiệp mỹ phẩm.
3. Phòng chống ung thư :
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ, chất Lycopen trong Cà chua có khả năng phòng chống ung thư, hạn chế sự phát triển các tế bào ung thư. Nhưng theo nghiên cứu của Đại học Califonia thì hàm lượng Lycopen trong Gấc còn cao gấp 70 lần. Không chỉ vậy, gấc còn chứa nhiều các chất khác như Vitamin E, carotene…làm vô hiệu hóa 75% các chất gây ung thư, đặc biệt là ung thư vú, ung thư tuyến tiền liệt…Do đó, người Mỹ gọi gấc là loại quả đến từ thiên đường.
Bệnh nhân ung thư
sau điều trị phẫu
thuật, tia xạ, hóa chất, corticoid… dùng dầu Gấc giúp phục hồi sức khỏe nhanh
chóng và ngăn chặn các nguy cơ gây
ung thư. Phòng chữa viêm gan, xơ gan và những thương tổn tiền ung thư đặc biệt
xơ gan có HbsAg(+) và nồng độ AFP cao đe doạ trở thành ung thư gan nguyên phát.
Mặc dù vậy, y học
khuyến cáo mỗi ngày người lớn chỉ nên sử dụng 20-25 giọt dầu gấc và 5-10 giọt
đối với trẻ em.
4. Tác dụng tốt với tim mạch :
Dầu Gấc có tác dụng làm giảm LDL cholesterol, làm bền thành mạch, chống xơ vữa động mạch, từ đó chống tai biến. Mang lại hệ tuần hoàn khỏe mạnh, tốt cho tim, người bị mắc bệnh tiểu đường. Chống các bệnh tim mạch, góp phần chống tai biến, tăng cường tuổi thọ.
5. Nhuận tràng, tốt cho tiêu hóa :
Các món ăn từ Gấc không chỉ ngon, đầy màu sắc mà còn nhuận tràng chống táo bón tốt cho hệ tiêu hóa.
Dầu Gấc có tác dụng làm giảm LDL cholesterol, làm bền thành mạch, chống xơ vữa động mạch, từ đó chống tai biến. Mang lại hệ tuần hoàn khỏe mạnh, tốt cho tim, người bị mắc bệnh tiểu đường. Chống các bệnh tim mạch, góp phần chống tai biến, tăng cường tuổi thọ.
5. Nhuận tràng, tốt cho tiêu hóa :
Các món ăn từ Gấc không chỉ ngon, đầy màu sắc mà còn nhuận tràng chống táo bón tốt cho hệ tiêu hóa.
6. Nâng cao sức đề kháng cơ thể
:
Curcumin trong dầu Gấc có khả năng loại bỏ các gốc tự do gây ung thư có trong thức ăn, nước uống hàng ngày. Đồng thời nâng cao sức đề kháng, thể lực. Bên cạnh tinh chất Curcumin được coi là quý giá còn có Beta Caroten chứa trong màng của quả gấc cũng có tác dụng chống ôxy hóa mạnh, tăng cường sức đề kháng cho cơ thể. Giúp cơ thể nâng cao hệ thống miễn dịch.
Curcumin trong dầu Gấc có khả năng loại bỏ các gốc tự do gây ung thư có trong thức ăn, nước uống hàng ngày. Đồng thời nâng cao sức đề kháng, thể lực. Bên cạnh tinh chất Curcumin được coi là quý giá còn có Beta Caroten chứa trong màng của quả gấc cũng có tác dụng chống ôxy hóa mạnh, tăng cường sức đề kháng cho cơ thể. Giúp cơ thể nâng cao hệ thống miễn dịch.
7. Chữa
bệnh trĩ nội, trĩ ngoại :
Rất đơn giản, chỉ có
dầu Gấc và tỏi ta. Lấy một số tép tỏi ta lột bỏ vỏ ngoài, cà nhẹ cho xơ màng
lụa, rồi bỏ vào một bình nhỏ. Đổ dầu Gấc vào vừa ngập, ngâm chừng 30 phút là dùng
được.
Ngày 2 lần sáng và
tối trước khi đi ngủ, sau khi đi đại tiện xong, rửa sạch, lấy một tép tỏi ngâm
dầu Gấc nhét vào hậu môn, xong lấy chút bông gòn thấm dầu Gấc trong bình thoa
nhẹ bên ngoài hậu môn. Làm như vậy ít ngày sẽ thấy kết quả. Làm tiếp đến khi
hết hẵn bệnh.
Cây (dây) Gấc
CÂY HOÀN
NGỌC
Mô tả : Hoàn ngọc còn có tên là Xuân hoa, Nhật nguyệt, Tu lình,
Con khỉ, Mặt quỉ, Trạc mã, Thần tượng linh, La điển, Nội đồng.
Cây Hoàn ngọc chính hiệu được xác định tên khoa học là
Pseuderanthemum palatiferum (Walls)
Radlk, thuộc họ Ô rô (Acanthaceae).
Hoàn ngọc thật được định dạng là lá có hình xoan nhọn, ngắn, màu xanh nhạt, dài
12-17cm, rộng 3,5-5cm, mặt dưới lá có đốm đen, gân bên 6-9 đôi. Thân đứng, cao
khoảng 1-2m, sống lâu năm, có nhiều cành. Hoa lưỡng tính, không đều, 5 lá đài
hình sợi, dài 5-6mm, tràng hoa có ống dài 2-4cm. Cụm hoa dạng bông chia nhánh. Quả nang có lông mịn, cao 3,5cm, phần lép
2,2cm, 2 ô, mỗi ô chứa 2 hạt.
Ngay cả cây Hoàn ngọc thật, cũng không phải
cây nào cũng có phẩm chất chữa bệnh như nhau. Thổ nhưỡng có tác động lớn đến
dược tính của cây Hoàn ngọc. Những cây Hoàn ngọc trồng trong chậu kiểng ít dược
tính hơn cây Hoàn ngọc tự nhiên, hoặc trồng theo quy trình khoa học.
Trong dân gian
thường có thói quen dùng lá tươi Hoàn ngọc để chữa bệnh. Tuy nhiên, do lá Hoàn
ngọc mang tính hàn nên dùng nhiều sẽ gây lạnh tỳ. Các chuyên gia khuyến cáo
không nên dùng lá tươi một cách tùy tiện mà phải đúng liều lượng. Mặt khác, có
thể người dùng còn nhầm lẫn cây Hoàn ngọc với một số cây có hình dạng tương
đồng, chẳng hạn như cây Hoàn ngọc dương hay còn gọi là cây Nhớt tím, cây Hoàn
ngọc đỏ (vì ngọn, lá non và thân có màu
đỏ tía). Hay một loại cây khác mà trong dân gian đã nhầm lẫn là Hoàn ngọc,
cây này có lá dài, màu xanh đậm, thân bò, cao trên 1 m. Những cây này tương đối
giống Hoàn ngọc nhưng chưa được nghiên cứu khoa học về công dụng và độc tính.
Phân bố : Cây mọc dưới
tán rừng, ưa ẩm và sinh trưởng nhanh, nhân giống bằng giâm cành. Cây mọc hoang
ở phía Bắc nước ta, thấy trồng ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Tây Ninh, và nhiều nơi
khác.
Công dụng :
1. Rễ cây Hoàn ngọc là
thành phần quan trọng nhất trong cây được nghiên cứu có tác dụng ức chế khối u.
Rễ được dùng làm thuốc thường phải có số tuổi là 7 năm trở lên mới tốt, vì vậy
khi sử dụng dược liệu và các sản phẩm từ cây Hoàn ngọc, người dùng cũng nên chú
ý đến chất lượng và số tuổi của rễ cây để đạt kết quả điều trị cao nhất.
2. Lá được dùng để khôi
phục sức khỏe cho người ốm yếu, suy nhược thần kinh, rối loạn tiêu hóa, lị, táo
bón, đau bụng không rõ nguyên nhân, chấn thương chảy máu, dạ dày, đại tràng,
trĩ nội, viêm thận, chảy máu đường ruột, đái ra máu, đái gắt, đái buốt, u phổi,
u xơ tuyến tiền liệt, điều chỉnh huyết áp. Liều dùng hằng ngày 3-7 lá.
Người hay bị lạnh
bụng phải cẩn thận khi dùng vì cây Hoàn ngọc tính hàn.
BÀI THUỐC CÓ CÂY HOÀN NGỌC
1.Chữa
xuất huyết dạ dày, ường ruột, đi tiêu đi tiểu ra máu :
Lấy
1 nắm to lá Hoàn ngọc tươi, rửa sạch, sắc với 3 chén nước còn 1 chén. Uống lúc
sáng sớm trước bữa ăn, hoặc lúc bụng đói. Uống liên tục vài ba ngày sẽ hết
bệnh.
2.Chữa u xơ phổi, tiền liệt tuyến :
Lấy 1 nắm lá Hoàn ngọc tươi, rửa sạch, cắt nhỏ, xay sinh tố với 1 chén
nước. Uống luôn cả xác,ngày 3 lần trước bữa ăn. Uống liên tục 1 tháng bệnh sẽ
cải thiện.
3.Chữa viêm gan, xơ gan cổ trướng :
Mỗi lần ăn 10 lá Hoàn ngọc tươi khi bụng đói, ngày 3 lần.
Hoặc lấy lá Hoàn ngọc khô xay bột mịn, trộn với bột Tam thất 2 thứ bằng
nhau. Uống ngày 3 lần trước bữa ăn, mỗi lần 1 muỗng cà phê. Uống liên tục 7
ngày bụng sẽ thấy nhẹ và xẹp dần. Tiếp tục uống cho đến khi hết bệnh. Đây
là bài thuốc cổ rất hay.
4.Chữa suy thận, viêm thận cấp và mãn
tính, đái đục, đái ra máu :
Mỗi
lần nhai 9 lá Hoàn ngọc tươi, ngày 3 lần trước hoặc sau bữa ăn. Nhai lien tục 1
tháng bệnh sẽ cải thiện.
5. Điều chỉnh huyết áp cao hoặc thấp quá
:
Nhai rất chậm 9 lá Hoàn ngọc tươi cho nước miếng quyện vào lá, rồi nuốt
từ từ. Ăn xong nằm nghỉ ngơi chừng 15 phút huyết áp sẽ bình thường lại. Rất hay
!
Cây
Hoàn ngọc
CÂY KHÔI
Mô tả : Cây Khôi còn
có tên là cây Cơm nguội rừng. Cây nhỏ, cao tới 2m, thân rỗng xốp, ít phân
nhánh. Lá tập trung ở đầu ngọn hay các nhánh bên, phiến lá thon ngược dài
15-20cm, rộng 6-10cm, mặt trên màu lục sẫm mịn như nhung, mặt dưới màu tím đỏ,
gân nổi hình mạng lưới màu xanh lợt hơn lá, mép lá có răng cưa nhỏ. Hoa mọc
thành chùm dài 10-15cm, màu trắng pha hồng tía gồm 5 lá đài và 3 cánh hoa. Quả
mọng, khi chin màu đỏ.
Phân
bố - Bộ phận dùng : Mọc ở rừng nguyên sinh và thứ sinh, nơi ẩm nhiều
mùn, ven suối, ở độ cao 400-1500m. Thấy ở miền núi và trung du Bắc bộ Trung bộ.
Bộ phận
dùng : Dùng lá và rể để làm thuốc chữa bệnh.
Công
dụng : Cây Khôi có vị chua, nước sắc lá có tác dụng làm giảm độ chua của
dạ dày.
ĐƠN THUỐC CÓ CÂY KHÔI
1. Chữa đau dạ dày :
-
Lá Khôi 80g,
-
Lá Bồ công anh 40g,
-
Cam thảo dây 20g.
Sắc
nước 1 với 6 chén nước còn 1,5 chén, sắc nước 2 với 5 chén nước còn 8 phân. Hòa
chung chia 2 uống 2 lần sáng và tối trước bữa ăn. Uống liên tục ít ngày sẽ khỏi.
2. Chữa trẻ bị sài, lở, mụt nhọt :
Lá Khôi còn phối hợp với lá Vối hay lá Hòe nấu nước tắm cho trẻ em bị bị
sài lở.
Hoặc
giã lá Khôi với lá Vối, trộn dầu mè đắp nhọt cho trẻ.
3. Bổ huyết :
Rể
cây Khôi phơi khô ngâm rượu uống bổ huyết.
4. Chữa kiết lị ra máu, đau yết hầu, cơ bắp
:
Rể sắc uống chữa kiết lị ra máu, đau yết hầu
và đau cơ bắp thịt.
Cây Khôi
CÂY MÃ
ĐỀ
(còn gọi là Xa tiền thảo)
Mô tả : Cây thảo sống lâu năm, cao 15-20cm, có thân ngắn. Lá mọc
thành cụm ở gốc, có cuốn rộng ngắn hơn phiến, phiến hình thìa hay hình trứng,
có 2-3 gân hình cung. Hoa nhỏ màu trắng, xếp thành bông dài mọc đứng. Quả hộp
nhỏ hình cầu, chứa 6-18 hạt. Hạt nhỏ tròn hay bầu dục, to 1,5mm, màu đen bóng,
gọi là Xa tiền tử.
Phân
bố : Cây mọc nơi sáng và ẩm, các bãi hoang, bờ ruộng, ven đường, cũng
được trồng ở khắp nơi.
Bộ phận
dùng : Phần cây trên mặt đất gọi là Xa tiền thảo.
Công
dụng : Mã đề có vị ngọt, tính mát, có tác dụng tiêu viêm, lợi phế, lợi
tiểu, long đàm.
ĐƠN THUỐC CÓ MÃ ĐỀ
1.
Chữa ho, tiêu đờm :
Mã đề 10g, Cam thảo
5g, Cát cánh 12g, sắc nước 1 với 4 chén nước còn 1 chén, sắc nước 2 với 4 chén
còn 8 phân, hòa chung 2 nước chia làm 2 lần uống sáng và tối trong ngày sau bữa
ăn.
2.
Thông lợi tiểu :
Hạt Mã đề 10g, Cam
thảo 5g, nước 600ml, nấu sôi lửa nhỏ trong 30 phút, uống thay nước trong ngày.
3.
Chữa viêm cầu thận mạn tính :
Mã đề 20 g, Ý dĩ 16
g, Thương truật, Phục linh, Trạch tả mỗi vị 12 g, Quế chi, Hậu phác mỗi vị 6 g,
Xuyên tiêu 4 g. Sắc nước 1 với 5 chén nước còn 1 chén, sắc nước 2 với 4 chén
nước còn 8 phân. Hòa chung chia 2 uống sáng và tối sau bữa ăn, ngày một thang.
4.
Chữa sỏi niệu :
Hạt Mã đề 30 g, Kim
tiền thảo 40 g, Thạch vĩ 30 g, Hoạt thạch 30 g, Tam lăng, Ý dĩ, Ngưu tất, Nga
truật mỗi vị 20 g; Chỉ xác, Hậu phác, gai Bồ kết, Hạ khô thảo, Bạch chỉ mỗi vị
12 g. Đổ 2,5 lít nước nấu sôi lửa nhỏ còn 1 lít, uống nhiều lần trong ngày.
Uống liên tục đến khi hết bệnh.
5.
Chữa viêm bàng quang cấp tính :
Mã đề 16g, Hoàng bá,
Hoàng liên, Phục linh, rễ cỏ Tranh, mỗi vị 12 g, Trư linh, Mộc thông, Hoạt
thạch, Bán hạ chế, mỗi vị 8 g. Sắc nước 1 với 4 chén nước còn 1 chén, sắc nước
2 với 4 chén nước còn 8 phân. Hòa chung chia 2 uống 2 lần trong ngày sáng và
tối.
6.
Chữa lỵ :
Mã đề, dây Mơ lông,
cỏ Seo gà mỗi vị 20 g. Sắc với 6 chén nước còn 2 chén, chia uống 3 lần trong
ngày.
7.
Chữa tiêu chảy :
Mã đề tươi 2 nắm,
rau Má tươi 1 nắm, cỏ Nhọ nồi tươi 1 nắm. Sắc với 2 lít nước còn ½ lít, chia ra
uống 3 lần trong ngày, uống ngày một thang.
Cây
Mã đề
CÂY MĂN
TÂY
Mô tả : Cây thảo có thân mọc ngầm
trong đất, thường gọi là thân rể. Thân rể dày, mang nhiều rể dài, đường kính 5
đến 6mm, màu nâu sáng, sốp. Các thân đứng mọc lên khỏi mặt đất lởm chỡm những vết
sẹo của những nhánh đã rụng, giống như mụt măng nên gọi là Măng tây. Các thân
này sinh ra những vòng cành nhỏ biến đổi thành lá hình kim sát thân. Hoa rất nhỏ,
màu lục, hình chuông, dài độ 6mm, tập hợp 4-6 cái thành nhóm ở nách lá của các
cành dạng lá. Quả hình cầu, dày, màu đỏ.
Phân
bố : Cây từ miền Nam châu Âu, lan ra nhiều nước. Ở nước ta trồng chủ yếu
để lấy măn non làm thức ăn, sau nầy mới biết đến là vị thuốc chữa bệnh rất hay.
Thành phần hóa học : Chứa nhiều
vitamine A, B1, B2 và C. Vì có chứa ít
lưu huỳnh nên trong nước tiểu người ăn Măng tây có mùi khó chịu.
Công dụng : Ngoài việc dùng để chế
biến thức ăn, Măng tây còn có tác dụng chữa bệnh như sau :
1. Thân rể có vị đắng, hơi cay, tính
ấm, có tác dụng chữa nhuận phế, long đàm, sát trùng.
2. Măng tây làm dịu sự kích thích, lợi
tiểu, nhuận tràng, trợ tim, kích thích sinh lý, cung cấp nhiều chất khoáng cho
cơ thể, làm giảm lượng glucose trong niệu. Chữa yếu gan, thận, sỏi niệu, thấp
khớp, đau nhức do phong, viêm phế quản mãn tính, phổi nóng sinh ho khan.
3. Thân rể được dùng chữa bệnh về thận,
thủy thủng, vàng da.
4. Ngoài ra Măng tây còn dung để chữa
bệnh ung thư bằng cách : rửa sạch, cắt nhỏ, bỏ vào máy xay sinh tố xay nhuyễn
làm thành xi-rô, đổ vào bình cho vào tủ lạnh dùng dần. Mỗi ngày uống 2 lần vào
buổi sáng và tối, mỗi lần 2 muỗng canh pha 1 muỗng mật ong rừng, thêm ít nước
sôi để nguội cho dễ uống.
Chú ý : Người bị viêm bàng quang, viêm khớp cấp tính, viêm đường tiết niêu, bị
bệnh thần kinh, bệnh Gout (gút) không nên ăn Măng tây.
Cây Măn tây
CÂY MẬT
NHÂN
(cây Bá bệnh, Hậu phác)
Mô tả : Cây nhỏ có cành, lá kép lông
chim lẻ gồm 10-36 đôi lá chét, hầu như không có cuống, hình dài, dày, nhẵn hoặc
có lông ở mặt dưới. Hoa và bao hoa phủ đầy lông. Quả hạch màu đỏ, nhẵn, hơi
thuôn dài, đầu tù-và cong, mặt trong có lông thưa và ngắn. Một hạt, trên mặt hạt
có nhiều lông ngắn.
Phân bố : Cây mọc phổ biến ở miền
Trung nước ta. Người ta dùng vỏ quả, vỏ thân hay vỏ rể phơi hay sấy khô để làm
thuốc.
Công dụng : Như tên gọi, là cây thuốc
chữa được nhiều bệnh như :
1.
Vỏ dùng chữa các bệnh : ăn không tiêu, ỉa chảy, giải độc rượu, đau nhức mỏi,
khí hư, huyết kém, trong ngực có cục tích, gân đờ, xương yếu, phụ nữ đau bụng
kinh, làm thuốc bổ.
2. Quả dùng chữa tả lị.
3. Rể dùng chữa ngộ độc, say rượu, sốt
rét, tẩy giun.
4. Lá dùng nấu nước tắm ghẻ, lở, ngứa.
5.
Lá và nhánh cây còn phối hợp với các vị thuốc khác chữa nhiều bệnh nan y rất
hay.
Liều
dùng : Ngày dùng 8-16g khô sắc uống, hoặc tán bột làm thành viên uống, hay
ngâm rượu uống.
Chú ý : Phụ nữ có thai không nên dùng.
Cây Mật nhân
CÂY NGẢI
CỨU (thuốc cứu)
Mô tả : Cây ngải cứu có tên khoa học là Artemisia
Vulgaris, thường có mùi thơm nồng và có vị hơi đắng hoặc rất đắng tùy theo mùa.
Cây thảo sống lâu năm, thân mọc đứng, cao 0,5-1,5m, phân nhiều cành, phủ lông
tơ trắng và có rảnh dọc. Lá mọc so le, xẻ nhiều kiểu từ xẻ lông chim đến xẻ
thùy theo đường gân, mặt trên xanh đậm, mặt dưới trắng xanh, có lông. Cụm hoa
chung dạng chùy ở ngọn hay ở nách lá, tạo ra những nhánh bông dài 2-10cm. Các
cụm hoa đầu có đường kính 3-4cm, không cuống. Quả bế nhẵn, không có mào lông.
Phân bố : Cây mọc hoang ở ven đường,
bãi đất hoang, nơi ẩm mát, cũng được trồng phổ biến ở khắp nơi.
Bộ phận dùng : lá và ngọn, dùng tươi
hay phơi khô trong bóng râm để dành. Nếu tán nhỏ rồi rây lấy phần lông trắng và
bột gọi là Ngãi nhung dùng làm mồi cứu.
Công
dụng :
1.
Làm thuốc điều kinh :
Một tuần trước ngày dự
kiến hành kinh, mỗi ngày lấy 6-12g (tối đa 20g) sắc với 1 lít nước còn non nửa
lít, hoặc bỏ vào bình rồi nấu nửa lít nước sôi đổ vào như trà, chia làm 3 lần
uống trong ngày. Có thể làm bột (5-10g) uống cũng được.
Nếu kinh nguyệt không
đều thì hàng tháng đến ngày bắt đầu kinh và cả những ngày có kinh, lấy Ngải cứu
khô 10g, đổ vào 2 chén nước sắc còn nửa chén, thêm vài muỗng mật ong cho dễ
uống, chia 2 lần uống trong ngày. Uống vài ngày kinh nguyệt sẽ đều.
2.
Giúp an thai :
Người mang thai nếu
thấy có hiện tượng đau bụng, ra máu, dùng 16g lá Ngải cứu, 16g lá Tía tô, sắc
nước 1 với 4 chén nước còn 1 chén, sắc nước 2 với 3 chén nước còn 1 chén. Hòa
chung 2 nước chia 3 uống 3 lần trong ngày sau các bữa ăn. Ngải cứu có tác dụng
an thai nên không sợ gây sẩy thai.
3.
Sơ cứu vết thương :
Lấy 1 nắm lá Ngải cứu
tươi rửa sạch, thêm vào 1/3 muỗng cà phê muối sống, giã nát, đắp lên vết
thương, máu sẽ cầm nhanh, giảm đau nhức.
4.
Trị mụn, mẩn ngứa :
Lá Ngải cứu tươi rửa sạch,giã
nát, đắp lên mặt để khoảng 20 phút, rồi rửa sạch mặt. Làm nhiều lần trong ngày,
vài ngày da sẽ trắng sáng hồng.
Trẻ em bị rôm sảy thì
giã nát nhiều nhiều lá vắt lấy nước hòa vào nước ấm tắm cho trẻ.
5.
Đau thần kinh tọa, nhức xương, đau đầu hoa mắt :
Lấy 300g Ngải cứu tươi rửa sạch, giã nát, thêm vào 2 muỗng canh
mật ong rừng, vắt lấy nước chia 2 uống trưa và chiều. Uống liên tục 1-2 tuần
hết bệnh.
6.
Giúp lưu thông máu lên nảo :
Lấy một nắm lá Ngải cứu rửa sạch, xắc thật nhỏ,
trộn đều với 1 quả trứng gà, nêm muối vừa ăn, đổ vào chảo chiên chín rồi ăn hết
1 lần trong ngày. Ăn 7 ngày máu sẽ lưu thông đều lên nảo.
7.
Suy nhược cơ thể, kém ăn :
Lấy 250g Ngải cứu, 2
quả Lê, 20g Câu kỷ tử, 10g Đinh quy, 1 con gà Ri (gà Ác) cở 150g, gia vị vừa ăn,
hầm với 1/2 lít nước còn 1/4 lít. Chia 5 phần ăn 5 lần hết trong ngày, ăn liên
tục 1-2 tuần.
8.
Cảm cúm, ho, đau cổ họng, đau đầu, đau dây thần
kinh :
Lấy 300g lá Ngải cứu, 100g lá Khuynh
diệp, 100g lá Bưởi hay Quít, Chanh, rửa sạch, nấu với 2 lít nước cho sôi 20
phút, nhắt xuống xông 15 phút.
Hoặc lấy 300g lá Ngải cứu, 100g lá Tía
tô, 100g lá rau Tần, 50g lá Sả. Nấu với 1 lít nước còn ½ lít, uống hết trong
ngày. Uống liên tục trong 1 tuần.
Ngải cứu được coi là tốt cho sức khỏe
nhưng nếu dùng quá nhiều cũng có thể gây ra ngộ độc. Độc tính của ngải cứu khi
dùng quá liều sẽ làm cho thần kinh trung ương bị hưng phấn quá mức, dẫn
tới chân tay run giật, sau đó cục bộ hoặc toàn thân co giật. Sau vài lần có thể
dẫn đến co cứng, nói nhảm, thậm chí bị tê liệt. Kiểm tra bằng phương pháp điện
soi có thể phát hiện các tổn thương ở tế bào não. Sau khi khỏi bệnh, vẫn thường
để lại những di chứng như hay quên, ảo giác, viêm thần kinh,…
Cây Ngải cứu (thuốc Cứu)
CÂY SẢ
Mô tả : Cây Sả còn có tên Sả chanh, Mao hương. Cây thảo sống lâu
năm, mọc thành bụi, phân nhánh nhiều từ gốc, cao khoảng 1,5m. Thân rể trắng hoặc
hơi tím.Lá dài đến 1m, hẹp, mép lá hơi ráp, bẹ trắng, rộng. Cụm hoa gồm nhiều
bong nhỏ không cuống.
Phân
bố : Được trồng ở khắp nơi, nhất là ở Do Thái người ta trồng thành đồn
điền rộng mênh mông để náu nước uống và làm thuốc.
Bộ phận
dùng : Toàn cây.
Công
dụng : Vị ngọt đắng, tính ấm, có mùi thơm. Có tác dụng khư phong, thanh
thấp, tán hàn, giải biểu, thong kinh lạc, tiêu thủng, nước sắc đặc thoa ngừa
côn trùng cắn.
Ngoài công dụng làm gia vị, cây Sả còn là vị thuốc chữa rất nhiều bệnh.
Tinh dầu Sả dùng khử mùi hôi tanh, xua ruồi muỗi, xoa ngoài chữa cảm cúm và phòng
bệnh truyền nhiễm.
MỘT SỐ BÀI THUỐC CÓ CÂY SẢ
1. Đau dạ dày :
Lấy
30-45g cây tươi nấu nước uống hằng ngày.
2. Hôi miệng, hôi nách :
Bột
củ Sả 10 phần, phèn phi 1 phần, trộn đều, viên thành viên bằng hạt bắp, uống mỗi
lần 5 viên, ngày uống 3 lần.
3.
Ngăn
ngừa ung thư :
Một số nghiên cứu cho
thấy mỗi 100g Sả chứa đến 24,205 microgam beta-carotene - những chất chống
oxy hóa mạnh mẽ có thể giúp ngăn ngừa ung thư.
4. Giúp tiêu hóa tốt :
Trà từ cây Sả và tinh
dầu Sả (có thể uống 3-4 giọt với nước đun
sôi để nguội) có tác dụng hỗ trợ tiêu hóa kém, ăn chậm tiêu, đầy bụng, buồn
nôn, nôn mửa, hay kích thích trung tiện, đau dạ dày, nóng trong, co thắt ruột,
tiêu chảy.
Tinh dầu Sả cũng
giúp giảm thiểu các vấn đề về khí trong cơ thể vì có khả năng thư giãn các cơ
dạ dày. Nó không chỉ giúp loại bỏ khí từ ruột, mà còn ngăn ngừa sự đầy hơi.
Kích thích tiêu hóa, khử hôi miệng, tiêu đờm. Uống 3-6 giọt tinh dầu chữa đau
bụng đầy hơi. Chú ý táo bón mà có sốt không dùng cây Sả, không dùng cho trẻ em
dưới 1 tuổi.
5. Chữa đau bụng, rối loạn tiêu hóa :
Cây sả tươi 30-50g đun sôi, hòa thêm đường đủ
ngọt, uống nóng 2-3 lần trong ngày. Dùng chữa chứng bội thực, đau bụng đi tả,
nôn ọe, cảm sốt, ngộ độc rượu. Liều dùng mỗi ngày từ 6-12g.
6. Chữa đau bụng tiêu chảy do lạnh :
Củ Sả 12g, vỏ quít khô 12g, búp ổi 12g, củ gấu
20g, gừng tươi 3 lát. Đổ 4 chén nước sắc còn 1 chén uống nóng (trẻ em thì chia uống làm 2-3 lần). Nếu
không đỡ thì thêm 15g tía tô, rất hiệu nghiệm.
7. Giải độc :
Ăn Sả cũng có tác dụng giải độc cơ thể bằng cách
tăng cường số lượng và tần xuất đi tiểu (thông
tiểu tiện). Điều này giúp cho gan, đường tiêu hóa, tuyến tụy, thận và bàng
quang được sạch sẽ và khỏe mạnh bằng cách hỗ trợ cơ thể loại bỏ các chất độc
hại không mong muốn và acid uric.
Đặc biệt Sả giải độc
rượu rất nhanh, bạn có thể dùng 1 bó Sả giã nát, thên nước lọc, gạn lấy 1 chén.
Người say rượu nặng uống vào sẽ nhanh chóng tỉnh và đỡ mệt, đỡ nhức đầu.
8. Có lợi cho hệ thần kinh :
Tinh dầu Sả được sử
dụng để tăng cường và cải thiện các chức năng của hệ thần kinh, thông kinh lạc.
Nó hỗ trợ trong điều trị một số rối loạn của hệ thần kinh như bệnh Alzheimer,
bệnh Parkinson, co giật, căng thẳng, chóng mặt, run rẩy chân tay, động kinh.
9. Giảm huyết áp :
Bổ sung các tinh chất có trong Sả sẽ có hiệu quả
trong việc giảm huyết áp. Nó làm tăng tuần hoàn máu và giúp giảm bớt tất cả các
vấn đề của huyết áp. Uống một ly nước trái cây có sả có thể làm giảm huyết áp.
10. Giảm đau :
Tinh chất Sả có thể
làm giảm đau tất cả các loại viêm và các cơn đau nhức. Vì vậy, nếu có đau răng,
đau cơ, đau khớp hay đau ở các bộ phận khác hãy uống trà sả rất hữu ích.
11. Làm đẹp da :
Chất Sả là một nguyên liệu không thể thiếu trong ngành công nghiệp
mỹ phẩm vì nó có rất nhiều lợi ích cho da. Tinh dầu sả cải thiện chất lượng da
như giảm mụn trứng cá và mụn nhọt. Nó cũng có tác dụng làm săn chắc các cơ và
các mô trong cơ thể.
12. Chữa ung thư :
Theo phân tích của các nhà khoa học phương Tây và châu Á thì chất
chiết suất từ cây Sả mạnh gấp 10.000 lần chất Adrimyacine dùng trong hóa trị
chữa ung thư trong Tây y, nên cây Sả còn nấu nước uống thay cho hóa trị trong
Tây y để chữa các bệnh ung thư, u, xơ…
13.
Xua đuổi côn trùng, tẩy uế :
Bên cạnh đó, cây Sả còn có tác dụng xua đuổi
được ruồi, muỗi, côn trùng, khử hết mùi xú uế, những nơi bị ô nhiễm môi trường
độc hại, sát trùng. Tinh dầu Sả còn được dùng làm thuốc diệt trừ muỗi.
Cây Sả
CÂY VỐI
Mô tả : Cây gỗ có kích thước trung bình. Lá bầu dục hay xoan ngược,
thót nhọn ở gốc, có mũi ngắn ở đầu, nhạt màu, và hơi có chấm nâu trên cả hai mặt,
dài 8-9cm, rộng 4-8cm. Hoa gần như không cuống, thành cụm hoa hình tháp trải ra
ở nách những lá đã rụng. Quả hình cầu hay hình trứng, đường kính 7-12mm, nhám,
nhớt.
Phân
bố : Cây Vối mọc hoang và được trồng khắp nơi ở miền Bắc nước ta để lấy
lá nấu nước uống như lá chè. Ra hoa tháng 6-7.
Bộ phận
dùng : Lá, vỏ thân, nụ hoa. Thông thường dùng tươi, nhưng cũng có thể
phơi khô để dùng dần.
Công dụng : Ngoài việc dùng lá để nấu nước uống giải nhiệt như lá chè, cây Vối còn phối hợp với các vị
thuốc khác để chữa một số bệnh.
1.
Hỗ trợ điều trị gút (gout) :
Lá vối được coi là cứu tinh với những
người bị bệnh gout – “bệnh của nhà giàu”. Lá và nụ vối có công dụng giúp tiêu
hóa thức ăn, nhất là thức ăn có nhiều dầu mỡ, giảm béo, lợi tiểu tiêu độc. Bệnh
nhân gout là do ăn uống nhiều chất béo ngọt, ứ đọng nhiều chất uric. Mặt khác
do hệ thống tiêu hóa và thận bài tiết đào thải không tốt dẫn đến uric ứ đọng ở
các khớp gây nên tình trạng sưng, nóng, đỏ, đau khớp.
Do vậy, nếu dùng thường xuyên lá và nụ
vối có tác dụng hỗ trợ tiêu tích, làm tan các chất uric đào thải ra ngoài nên
góp phần trong phòng ngừa, hỗ trợ điều trị bệnh gout.
2.
Nụ vối hỗ trợ trị tiểu đường :
Một nghiên cứu gây chú ý là tác dụng của
nụ vối trong việc hỗ trợ điều trị bệnh tiểu đường. Kết quả nghiên cứu thực
nghiệm và lâm sàng đã chứng minh các hợp chất flavonoid trong chè nụ vối rất
hiệu quả trong việc hỗ trợ phòng và điều trị bệnh nhân tiểu đường.
Người bệnh tiểu đường nếu thường xuyên
uống chè nụ Vối sẽ giúp ổn định đường huyết, giảm mỡ máu, chống ôxy hóa tế bào,
bảo vệ tổn thương tế bào beta tuyến tụy, phòng ngừa đục thủy tinh thể ở người
bệnh tiểu đường và giúp tăng chuyển hóa cơ bản. Điều đặc biệt là uống nụ vối
không có tác dụng phụ đáng kể nên có thể uống thường xuyên.
3.
Cải thiện hệ tiêu hóa :
Theo Đông y, nụ và lá Vối có tính hàn
mát, vị đắng không có độc, có tác dụng thanh nhiệt giải biểu (mồ hôi), kiện tỳ, tiêu thực trừ được ăn
không tiêu, chữa được ngoại cảm phát sốt, sợ rét đau đầu.
Chất đắng trong lá và nụ Vối kích thích
nhiều dịch vị tiêu hóa. Mặt khác, chất tannin (là những hợp chất tự nhiên thuộc nhóm polyphenol phổ biến trong thực
vật) trong lá Vối giúp bảo vệ niêm mạc ruột, chất tinh dầu có tính kháng
khuẩn cao nhưng không gây hại cho những vi khuẩn có ích cư trú trong ống tiêu
hóa. Vì vậy lá và nụ Vối kiện tỳ giúp ăn ngon, tiêu hóa tốt, chữa bệnh đại
tràng mãn, chữa viêm gan.
Cây Vối
CÂY XA KÊ
(cây Bánh mì)
Mô tả :
Cây Xa kê có thân gỗ cao đến 15 mét, có mủ trắng.
Lá dài đến 1m, có khía sâu thành 3-9 thùy, rất nhám ở mặt dưới, lá kèm vàng mau
rụng, dài 12-13cm. Bông đực dài 20cm, có 1 nhụy. Quả phức hình cầu màu xanh rồi
chuyển hơi vàng, to bằng quả mít, có nạc trắng, không ngọt nhưng nhiều bột.
Phân
bố : Cây Xa kê có nguồn gốc từ Indonesia và New Ghiné, được trồng phổ
biến ở miền Nam Việt Nam và nhiều nơi khác.
Bộ phận
dùng : Rể, vỏ, lá. Thịt có thể ăn được, có nhiều bột dùng làm bánh như
khoai tây, hay cắt lác chiên hay luộc ăn rất ngon.
Công dụng : Các bộ
phận như trái, rễ, lá, vỏ và cả nhựa của cây Xa kê đều có nhiều dược tính, nên
được y học, dân gian dùng làm các bài thuốc trị bệnh. Theo Đông y, thịt của quả
Xa kê có tác dụng bổ tỳ, ích khí. Còn hạt Xa kê thì có tác dụng bổ trung ích
khí, lợi trung tiện. Vỏ cây có tác dụng sát trùng. Còn lá Xa kê có tác dụng
kháng sinh, tiêu viêm lợi tiểu.
Lưu ý : người không có bệnh thì không nên tự ý dùng lá Xa kê
nấu uống thường xuyên.
MỘT SỐ BÀI THUỐC CÓ CÂY XA KÊ
1.
Chữa
mụn rộp, sưng hang, nhọt, áp xe :
Lá Xa kê thường được đốt thành than, tán mịn, phối hợp với dầu dừa và
nghệ tươi, giã nát, làm thành bánh để đắp chữa mụn rộp. Hoặc dùng lá Xa kê và
lá đu đủ tươi, lượng bằng nhau, giã với chút vôi ăn trầu cho đến khi có màu
vàng, dùng để đắp chữa sưng háng, mụn nhọt, áp xe.
2.
Chữa
bệnh gout (gút) :
Người bệnh gút (gout) hay bị sỏi thận có thể lấy lá Xa kê già, còn tươi
độ 100g, quả dưa leo 100g, cỏ Xước khô 50g. Cho cả 3 loại vào nồi nấu lấy nước
dùng.
3.
Chữa
viêm gan :
Những người bị viêm gan vàng da, có thể dùng lá Xa kê còn tươi chừng
100g, Diệp hạ châu tươi 50g, củ Móp gai tươi 50g, cỏ Mực khô 30g. Tất cả đem
nấu chung để lấy nước uống trong ngày thay nước.
4.
Chữa
tiểu đường :
Những người bị bệnh tiểu đường dạng 2 có thể dùng lá Xa kê đã già chừng
100 gr, quả đậu bắp tươi 100g, lá ổi non 50g. Tất cả đem nấu chung để lấy nước
uống hằng ngày. Có thể uống thường xuyên.
5.
Chữa
đau răng :
Để chữa cơn đau tạm thời trước khi đến khám ở nha sĩ, có thể lấy rễ cây
Xa kê đem nấu nước thật đậm ngậm và súc miệng.
6.
Chữa
tăng huyết áp :
Những người bị tăng huyết áp dao động,
dùng 2-3 lá Xa kê vàng vừa rụng, rau bồ ngót tươi 50g, lá chè xanh tươi 20g,
đem tất cả rửa sạch nấu chung lấy nước uống thay nước trong ngày. Có thể uống
liên tục.
Cây Xa kê (cây Bánh mì)
***
TẠM HẾT ***
Phú Ninh-Quảng Nam, tháng
12-2015
NGUYÊN CHƯƠNG
TÀI LIỆU
THAM KHẢO
-
Trên mạng internet,
-
Bộ sách Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của Giáo sư Tiến sĩ Đỗ Tất Lợi,
-
Bộ Tự điển Cây thuốc Việt Nam của Phó tiến sĩ Võ Văn Chi,
-
Tạp chí Số tay y học,
-
Báo Dân trí,
-
Báo Thanh Niên,
- Báo Tuổi Trẻ,
-
Báo Tuổi trẻ & Đời sống,
-
Báo Khoa học & Đời sống,
-
Báo Luật pháp & Gia đình,
-
Báo Người Lao động,
-
Báo Tiền phong,
-
Báo An ninh Thủ đô,
-
Báo An ninh thế giới,
-
Báo Đà Nẵng điện tử…





















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét